1- Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam - Đà Lạt

Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam (The Vietnamese National Academy) c̣n được viết và gọi là Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt , có thể v́ lư do  Trường tọa lạc ở Đà Lạt.

Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam là hậu thân của Trường Sĩ Quan Việt Nam (hay Trường Việt Nam Hiện Dịch tại Huế)  và Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt .

V́ vậy để cho lịch sử thành lập của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam được đầy đủ,bài này bao gồm luôn các tin tức về hai trường tiền thân .

Để đễ dàng việc đọc , bài này được chia làm ba phần  :

Phần 1 : Trường Sĩ Quan Việt Nam ;

Phần 2 : Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt ;

Phần 3 : Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam .

Tuy nhiên ba phần này không hoàn toàn biệt lập  bởi v́ ba trường  Vơ Bị này có những liên hệ mật thiết, v́ vậy một số tin tức của phần này được nhắc lại trong phần kia và ngược lại .

 

Phần 1 : Trường Sĩ Quan Việt Nam

 

Theo tài liệu [1] & [1] :

Lịch sử của trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam là lịch sử của một thực thể gắn liền với lịch sử cận đại của dân tộc, của chiến tranh Việt Nam nói chung và của gịng Quân Sử Việt nói riêng.

Sau khi quân Phiệt Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, Liên Hiệp Quốc cử các lực lượng quân sự của Trung Hoa Dân Quốc và Anh Quốc vào lănh thổ Đông Dương để giải giới quân Nhật và tiếp giúp cho các dân tộc bản xứ (Annam, Lào, Cao Miên) (xứ thuộc địa ?)  tái lập Quốc Gia Độc Lập thoát khỏi ách đô hộ của Pháp.

Trên lănh thổ Việt Nam, các đoàn thể chính trị Quốc Gia không theo cộng sản ḥa hợp với nhóm Việt Minh cộng sản của  Hồ Chí Minh (Sic)  để thành lập chính phủ Liên Hiệp điều hành đất nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945,  Hồ Chí Minh (Sic)  với tư cách chủ tịch Chính phủ Liên Hiệp đại diện đứng ra tuyên bố nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa Độc Lập (Sic) không c̣n lệ thuộc vào Pháp nữa.

Nhưng đến ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh (Sic) lại lợi dụng danh nghĩa chủ tịch chính phủ Liên Hiệp phản bội Tổ Quốc Việt Nam bằng cách lén lút kư với Saintenay (Đại diện Pháp) đang sống tại Hà Nội, Bản Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946 chấp nhận cho Pháp đổ quân lên trấn đóng tại nhiều thành phố lớn tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam kể cả Hà Nội, sau khi Pháp đă chiếm và đóng quân tại các tỉnh thuộc miền Nam vĩ tuyến 16 của Việt Nam vào cuối tháng 1 năm 1946.

Đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, Hồ Chí Minh (Sic) và phe Việt Minh của hắn chính thức đón tiếp quân Pháp đổ bộ lên thành phố cảng Hải Pḥng và tiến lên Hà Nội bằng đuờng bộ.

Sau hơn 7 tháng, quân Pháp được công khai an toàn đóng quân và củng cố vị trí an ninh ngay giữa các thành phố lớn, nhiều điều xích mích đă xẩy ra về chia chác quyền hành cai trị giữa Việt Minh và Pháp ngay trong các thành phố đă không được giải quyết ổn thoả, nên tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 , Hồ Chí Minh (Sic)  và phe nhóm Việt Minh đă phát động cuộc “tổng tấn công” các điạ điểm trú quân của quân Pháp tại tất cả các thành phố đang có quân Pháp trú đóng. Nhưng v́ trang bị vũ khí thô sơ, tổ chức quân chưa hoàn chỉnh nên Việt Minh đă bị thua phải bỏ các thành thị rút vào “bưng” để tiếp tục tiêu thổ kháng chiến. Quân Pháp toàn thắng, bắt đầu tái dụng các quan lại thời đô hộ cũ và nhóm con lai Pháp lập hệ thống hành chánh cai trị giúp dân chúng tái tạo cuộc sống b́nh thường tại các đô thị. Chiến tranh tiếp tục lan tràn qua các tỉnh kế cận Hà Nội đến các vùng nông thôn, dân chúng phải sống giữa hai gọng kềm Việt Minh  và Pháp vô cùng thảm thương bi đát.

Trước hoàn cảnh đó, các nhân sĩ Việt Nam thương nước yêu ṇi và thành viên các đảng phái Quốc Gia Không cộng sản thoát chết sau vụ Việt Minh phản bội tàn sát hồi đầu năm 1946, đă ngồi lại với nhau t́m giải pháp ôn ḥa giành lại Độc Lập cho đất nước mà không phải phung phí xương máu của dân tộc v́ chiến tranh. Họ đă đi đến kết luận vận động mời cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông đứng ra thương thuyết với chính phủ Pháp để tái dựng Quốc Gia Việt Nam Độc Lập Thống Nhất Cả 3 Miền trong khối Liên Hiệp Pháp.

Ngày 19 tháng 8 năm 1947, cựu Hoàng Bảo Đại từ Hồng Kông tuyên bố bằng ḷng đứng ra tiếp xúc điều đ́nh với chính phủ Pháp. Cuộc vận động kéo dài măi tới ngày 5 tháng 6 năm 1948, trên chiếc tầu biển Duguay Trouin neo tại Vịnh Hạ Long,cựu Hoàng Bảo Đại mới tới để chứng kiến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân Thủ Tướng và mấy vị Đại Diện cả 3 miền Bắc, Trung Nam thuộc chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam Thống Nhất, cùng ông Bollaert (đại diện chính phủ Pháp) kư bản Hiệp Ước Hạ Long công nhận Quốc Gia Việt Nam Độc Lập Thống Nhất Cả  3 Miền Bắc, Trung , Nam  trong khối Liên Hiệp Pháp.

Kể từ ngày giờ đó, cờ Quốc gia Việt Nam mới là Nền Vàng với Ba Sọc Đỏ nằm dài chính giữa (theo h́nh Quẻ Càn của Bát Quái trận đồ) và Quốc Ca là bài “Tiếng Gọi Công Dân” nhạc của Lưu Hữu Phước (nguyên là đoạn 1 của bài “Sinh Viên Hành Khúc” nhưng lời ca được sửa đôi chỗ. Bài “Sinh Viên Hành Khúc” nguyên thủy gồm 3 đoạn đă được các sinh viên Viện Đại Học Hà Nội tŕnh bầy hợp ca lần đầu tiên trong buổi tŕnh diễn văn nghệ ngày 15 tháng 3 năm 1942 tại hội trường Viện Đại Học để gây quỹ giúp các bệnh nhân nghèo trong các bệnh viện nơi sinh viên Y khoa thực tập.)

Một ngày sau khi kư Hiêp Ước Hạ Long tức là ngày 6 tháng 6 năm 1948 (ngày 5 tháng 6 năm 1948 theo tài liệu [3])  Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ thị Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân Thủ Tướng Chính Phủ Trung Ương của nước Việt Nam Thống Nhất Cả 3 Miền xúc tiến việc thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (QĐQGVN), khởi sự bằng việc tổ chức Trường Sĩ Quan Việt Nam HIện Dịch tại Huế để đào tạo cấp chỉ huy trước khi thành lập các đơn vị tác chiến và cơ sở quản trị yểm trợ tiếp vận hành chánh quân đội.

Theo tài liệu [4] : Bác sĩ Phan Huy Quát là Tổng Trưởng Quốc Pḥng đương thời, ủy thác Đại Tá Lê Văn Kim và Đổng Lư Văn Pḥng Bùi Diễm đàm phán quân sự với Pháp để h́nh thành cơ cấu căn bản, với các cấp chỉ huy quân đội lúc đầu từ Quân Đội Pháp chuyển qua.

Theo tài liệu [3] : Tháng 10 năm 1948, Trường Sĩ Quan Việt Nam được thành lập và khai giảng khóa đầu tiên tại thành phố Huế .

Nhưng theo tài liệu [5] : Chính Phủ Quốc Gia  Việt Nam thành lập  Trường Sĩ Quan Việt Nam vào ngày 01 tháng 12 năm 1948.

Trường Sĩ Quan Việt Nam thường được gọi là trường Vơ Bị Huế để phân biệt và tránh ngộ nhận với trường Vơ Bị Địa Phương Trung Việt thành lập từ cơ sở trước đó của trường Trường Sĩ Quan Việt Nam (sau khi trường này di chuyển về Đà Lạt) .

Theo tài liệu [1,3] : Trường Sĩ Quan Việt Nam được thành lập là nhằm đào tạo sĩ quan hiện dịch, ṇng cốt chỉ huy cho Quân Đội Quốc Gia  Việt Nam.Và theo tài liệu [5] : Nhiệm vụ của trường Sĩ Quan Việt Nam Huế là đào tạo sĩ quan Trung đội trưởng.

Chỉ Huy Trưởng của Trường là Trung Tá Chaix . 

Địa điểm xây dựng Trường Sĩ Quan Việt Nam theo tài liệu  [2] :

Cố Đô Huế tại miền Trung Việt Nam là nơi được lựa chọn để xây dựng cơ sở Trường. Trách nhiệm thực hiện được giao cho Toà Đại Biểu chính phủ tại miền Trung do ông Phan Văn Giáo lănh đạo phối hợp với Bộ Chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn do Đại Úy Nguyễn Ngọc Lễ đang làm chỉ huy trưởng thực hiện, bằng cách chỉnh trang lại một ngôi biệt thự rộng răi nằm bên tả ngạn sông Hương của thị xă Huế, cách cầu Tràng Tiền chừng mấy trăm thước và gần bên Đập Đá trên đường Lê Lợi hướng đi Phú Vang. Người Huế quen gọi tên địa điểm này là Saint Benois.

V́ vậy Trường Sĩ Quan Việt Nam c̣n được gọi là trường Sĩ Quan Đập Đá .

Khu biệt thự biến thành Trường Sĩ Quan Việt Nam này khá rộng, bề ngang 400 mét và sâu khoảng 200 mét, nằm bên phiá trái đường Lê Lợi sát bên bờ sông Hương đối diện với chợ Đông Ba phía bên kia sông. Suốt mặt tiền sát ngay bên lề phố là một dẫy tường gạch cao 2 mét, ở khoảng giữa có một cổng rộng chừng 8 mét phía trên gắn bảng hiệu h́nh ṿng cung sơn mầu xanh lá cây trên kẻ chữ “ École Des Officiers Vietnamiens ” mầu vàng.

 Hông bên trái Trường hướng Tây sát với các nhà dân, được ngăn bằng một hàng rào kẽm gai cao 2 mét đan ô vuông dầy 20 phân từ lề đường phố thẳng tuốt xuống tận bờ sông Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi tiếp vận ra vào Trường. Hông bên phải hướng Đông có một dẫy tường đá dầy 40 phân cao hơn 1 mét để ngăn cách với khu biệt thự kế bên cũng rất rộng đang bỏ trống không người ở.

Địa điểm tọa lạc của Trường rất an ninh v́ nằm ngay trong giữa thành phố Huế, và cũng rất thuận lợi v́ từ các nơi người ta có thể đến Trường bằng cả 3 loại phương tiện:

- Đường Bộ, dùng xe hơi theo Quốc lộ 1 xuyên Việt Nam, hoặc dùng xe hoả theo tuyến thiết lộ xuyên Việt chạy song song với Quốc lộ 1 nối liền Saigon và Hà Nội;

- Đường Hàng Không, dùng máy bay đáp xuống phi trường Phú Bài cách thành phố Huế khoảng vài chục cây số;

- Đường  Thủy, dùng tầu thủy cặp bến cảng Đà Nẵng rồi dùng xe hơi chạy theo Quốc lộ 1 băng qua Đèo Hải Vân lên phía Bắc để tới Huế.

 

Các cơ sở Trường tại Huế gồm  có :

Bước qua ngưỡng cổng chính của Trường vào trong, ngay bên phía trái là một Sân Tập Họp thật rộng có dựng một cột cao treo cờ Quốc Gia Việt Nam (cờ nền vàng 3 sọc đỏ).

Tiếp đến ở phần đất bên trái phía sau sân tập họp và cột cờ là một ngôi nhà ngói khoảng 400 mét vuông dùng làm Trụ Sở của Ban Giám Đốc Trường gồm văn pḥng Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng, văn pḥng Đại Úy Joly Giám đốc Huấn Luyện, các văn pḥng của các sĩ quan huấn luyện viên kiêm trung đội trưởng khóa sinh, và các hạ sĩ quan phụ tá (moniteur).

Phía bên phải sân tập họp và cột cờ, ngay từ sau cổng vào là Trạm Kiểm Soát gồm văn pḥng sĩ quan trực nhật, pḥng Y Tế, và nơi ngủ của các lính thuộc Lực lượng Việt Binh Đoàn canh pḥng bảo vệ doanh trại.

Kế đến là một dẫy nhà dài khoảng 50 mét rộng 8 mét dùng làm Pḥng Ăn tập thể cho khoá sinh, đồng thời cũng dùng làm Giảng Đường lớn khi phải tập trung toàn khóa. Bên trong nhà ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1 mét ở chính giữa, suốt chiều dài của nhà có kê 2 dẫy bàn dài bề ngang 1 mét với những dẫy ghế dài không lưng tựa dọc 2 bên để làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe thuyết tŕnh hoặc làm bài thi.

Ngay sau lưng trạm kiểm soát và Nhà Ăn (Pḥng Ăn) tập thể, có 3 dẫy nhà khác nhỏ và ngắn hơn dùng làm Pḥng Học và Sinh Hoạt riêng cho từng trung đội khoá sinh. Bên trong Nhà Học riêng của từng trung đội khoá sinh được trang trí y như trong một lớp dành cho các học tṛ trung học vậy. Suốt bề dài căn nhà, kê 2 dẫy bàn học tṛ loại bàn liền ghế cho 2 người ngồi chung. Nơi đầu pḥng có một bảng đen lớn và một bàn viết và ghế dành riêng cho huấn luyện viên đến sinh hoạt với khóa sinh.

Tất cả các dẫy nhà đều lợp mái bằng gốc dạ rất dầy, tường chung quanh là những phên liếp bằng nứa đan. Mỗi nhà chỉ có 2 cửa ra vào tại 2 đầu nhà, dọc hai bên nhà là 2 dẫy cửa sổ rộng có cánh liếp nâng lên hạ xuống được để thông thoáng gió và cho ánh sáng lọt vào nhà những khi không bật đèn.

Phía trong cùng của khu đất, dọc theo bờ sông Hương có 2 dẫy nhà dài nối tiếp nhau dùng làm Nhà Ngủ cho khoá sinh. Nhà xây tường gạch mái lợp ngói, bề cao từ nền đến nóc khoảng 5 mét không có lớp trần che cản sức nóng từ nóc nhà phà xuống, nên mùa Hè rất nóng và ngược lại mùa Đông rất lạnh. Dẫy phía bên trái được ngăn đôi, một nửa dùng làm Kho và pḥng ngủ của Thượng sĩ Nhất Lục Sĩ Mẫn, Hạ sĩ quan phụ trách Thường Vụ (service général) của Trường, c̣n nửa kia dành làm pḥng ngủ chung cho khoá sinh thuộc Trung đội 1 (người từ miền Nam ra). Dẫy bên phải, nửa bên trái dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 2 (người miền Trung) và nửa bên phải dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 3 từ miền Bắc vào.

Dọc theo chiều dài nhà Ngủ, kê 2 dẫy giường cá nhân bằng gỗ có cọc khung gỗ để giăng mùng chống muỗi riêng cho mỗi giường. Giường được kê từng cặp sát bên nhau và một đầu sát tường. Giữa mỗi cặp giường để chừa một khoảng cách 1 mét để hai người ngồi đối diện không dụng đầu gối chân của nhau. Mỗi giường có một chiếu bằng cói, và một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông g̣n có thể gập đôi lại được.

Tại một góc tường bên gần cửa ra vào nơi đầu nhà, có một giá gỗ để gác súng của trung đội khoá sinh. Mỗi khoá sinh được cấp một khầu súng trường Garant M-1 riêng, để ǵn giữ lau chùi và xử dụng trong việc tập luyện thao tác cơ bản, duyệt binh, tác chiến, và tập bắn. Loại súng này hơi dài và nặng đối với những người có h́nh vóc nhỏ thấp, nhưng bắn lại đầm không giật hậu mạnh như các loại Mousqueton và Mas-36 nên trong các kỳ thi bắn dễ đạt được điểm trúng bia rất cao.

Từ đầu nhà ngủ của khóa sinh ra đến bờ sông Hương có một con đường đất rộng khoảng 5 mét.

Cuối đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25 mét vuông, cao hơn mặt nước sông chừng 30 phân, dùng làm Cầu Bến Tắm Giặt cho khoá sinh. Đặc biệt nước sông Hương trong vắt có thể nh́n suốt tận đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc soi sáng nơi đầu thuyền bơi dọc ven sông để người ngồi trên dùng cây chĩa đôi bằng sắt đâm xuống nước để bắt cá.

Bên phải con đường xuống Cầu Bến Tắm là nhà bếp và phía bên trái con đường nơi sát bên hàng rào gần bờ sông là Nhà Vệ Sinh Công Cộng đủ rộng cho cả trăm nguời giải quyết việc tiểu và đại tiện suốt ngày đêm.

 

Phương thức tuyển lựa khoá sinh (khóa 1) theo tài liệu [2] :

Tại  miền Nam (Vệ Binh Nam Việt) và  miềnTrung (Việt Binh Đoàn) đươc quy định như thế nào không rơ, nhưng tại miền Bắc th́ là do đề nghị của các đơn vị trưởng các Đại Đội Vệ Binh Bắc Kỳ đề nghị tập trung về Bộ Tư Lệnh Vệ Binh Bắc kỳ tổng kết cứu xét tuyển chọn, rồi gửi danh sách đến Bộ Quốc Pḥng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam quyết định tối hậu. Điều kiện văn hoá (học vấn ?) tối  thiểu khóa sinh phải có bằng Trung Học Pháp hoặc có tŕnh độ học vấn các lớp Trung Học và đang phục vụ trong quân đội với cấp bậc hạ sĩ quan tốt nghiệp từ các khóa đào tạo Peleton I, Peleton II của quân đội Pháp, nếu ai đang là Binh Nh́ th́ phải có bằng Tú Tài.

Theo tài liệu [5] : Trường Sĩ Quan Việt Nam Huế đă đào tạo được 2 khóa : Khóa 1 Phan Bội Châu (1948-1949) và khóa 2 Quang Trung (1949-1950) . Hơn 150 sĩ quan tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Uư và Chuẩn Uư .

Sau đây là các chi tiết về Khóa 1 tại Trường Sĩ Quan Việt Nam  trích từ tài liệu [2] :

Tập tục sinh hoạt hàng ngày của khoá sinh :

A . - Giờ Giấc Sinh Hoạt.

Kèn lệnh được dùng để báo hiệu giờ giấc sinh hoạt hàng ngày.

- 6 giờ sáng thức dậy, làm vệ sinh cá nhân, tập thể dục tập thể tại sân cờ;
-  7 giờ ăn sáng;

-  8 giờ Tập họp tại sân tập trung tŕnh diện sĩ quan Huấn luyện viên Trực trong ngày, thực hiện Lễ Chào Cờ, sau đó xuất trại ra hiện trường thao luyện tác chiến, hoặc đi thăm viếng học thực tập tại các đơn vị chuyên môn, kỹ thuật …

 - 11 giờ nghỉ trưa, ăn bữa trưa, chuẩn bị cho sinh hoạt buổi chiều;
-    13 giờ thức dậy;

-  14 giờ tập họp trong nhà ăn tập thể để tham dự các môn học lư thuyết căn bản về quân sử, tham mưu, quản trị, điều hành, chiến lược, chiến thuật, tổ chức đơn vị tác chiến… do huấn luyện viên thuộc trường giảng dậy, hoặc nghe các giảng viên ngoài trường đến thuyết tŕnh các đề tài tổng quát thuộc các lănh vực liên quân chủng trong quân đội;
- 18 giờ nghỉ dung bửa tối;

- 21 giờ điểm danh tối và tắt đèn ngủ.

B . - Những Quy Luật Bắt Buộc Khoá Sinh Phải Theo :

- Ban ngày trong giờ sinh hoạt, Pḥng Ngủ của khóa sinh phải thường xuyên sắp xếp thật ngăn nắp theo cùng một khuôn mẫu như nhau :

- Mùng phải tháo ra khỏi khung, gập lại xếp ngăn nắp cùng với gối và mền để phía đầu giường sát tường, rồi gập đôi nệm đè lên sao cho thật vuông vắn đẹp mắt ;
Vali và túi đựng quần áo và tư trang riêng phải để gọn gàng dưới gầm giường phía sát tường ;
- Quần áo cá nhân cần giặt ủi, phải tập trung đưa nhà thầu nhận giao hàng ngày hoặc tự mang ra các tiểm giặt ủi tư nhân ngay 2 bên đường phố cạnh Trường;
- Đến giờ ăn các Trung đội tập họp ngoài sân rồi lần lượt theo nhau vào kiếm chỗ ngồi ăn, 4 người một mâm. Cơm và thức ăn đă được nhân viên nhà bếp (do nhà thầu tư nhân đảm trách) bầy sẵn từng mâm có lồng bàn đậy cản ruồi trên các bàn ;

Thức ăn hàng bữa gồm 3 món (xào, mặn, và canh) nấu theo khẩu vị người Trung và thường là hơi ít không đủ no. Bữa điểm tâm nào cũng là xôi đậu (ăn xường xượng như có lẫn gạo tẻ) chấm muối mè có bỏ thêm chút đường cát trắng. Đa số anh em thường phải ăn quà thêm, bún ḅ, cháo huyết, bánh ḿ cặp thịt, mua của các gia đ́nh tư nhân ở sát hàng rào bên hông Trường, hoặc bánh xèo “Mụ Béo” ngay bên kia đường trước cổng Trường bán cho ăn chịu ghi sổ cuối tháng lănh lương mới trả.

C- Đồng Phục Khoá Sinh.

Đồng phục làm việc thường của sinh viên là đồ short vải kaki vàng. Quần ống ngắn tới đầu gối, áo sơmi (chemise) ngắn tay cổ bẻ, giầy da thấp cồ mầu nâu xậm, và tất (vớ) len dài tới dưới đầu gối cùng mầu với quần áo;

Đồng phục dạo phố cũng bằng kaki, quần dài, áo sơmi dài tay với 2 túi ngực có nắp, cổ thắt cà vạt nỉ mỏng mầu xanh ô-liu ;

 Vào mùa Đông dùng quần áo dạ mầu ô-liu xậm (áo blouson) ;

Mũ calô nỉ đen đỉnh vàng 2 bên viền kim tuyến, được dùng chung cho tất cả các loại đồng phục.

Quần áo lănh về có người mặc không vừa phải thuê sửa lại. Những sinh viên dư giả tiền thích mặc quần áo đẹp, th́ đến các tiệm may ngoài phố đặt cắt may bằng những hàng vải kaki đẹp đắt tiền để trưng diện lúc ra đường cho được vừa ư.

Có điều làm sinh viên  rất hănh diện là từ ngày  mặc đồng phục mang cầu vai Alpha ra đường, mọi hạ sĩ quan và binh sĩ gặp mặt , họ đều chào sinh viên Trường  đúng theo cung cách chào kính sĩ quan vậy.

 

D- Ngày Khai Giảng Khóa Học :

 Trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu, Đại Úy Joly Giám đốc Huấn Luyện giới thiệu các sĩ quan huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng khóa sinh, và các hạ sĩ quan phụ tá (moniteur) của từng Trung đội ;

- Trung Úy Petdedieu và hạ sĩ quan moniteur (không nhớ tên) phụ trách Trung đội 1 gồm toàn người từ miền Nam ra ;

- Trung Úy Scuarnec và Adjudant Chef DO phụ trách Trung đội 2 gồm anh em thuộc miền Trung ;

- Và người phụ trách Trung đội 3 (miền Bắc)  là Trung Úy Besson và Sergent Kervenic (cả Trung Úy Besson và Trung sĩ Kervenic đều c̣n rất trẻ, tính t́nh rất hiền lành và tốt bạn, không như Thượng sĩ Nhất DO lúc nào cũng tỏ ra quan trọng và nghiêm khắc).

Buổi lễ khai mạc khóa rất đơn giản, không có khách bên ngoài tham dự, chỉ có một ḿnh Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng vào ra mắt chào mừng chúng tôi và nhắn nhủ mấy điểm chính yếu sau:

1. - V́ phần lớn đă là hạ sĩ quan thâm niên có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động quân đội, nên một phần chương tŕnh của khóa học được cắt bỏ bớt, do đó thời gian khóa học sẽ ngắn hơn dự liệu nên chỉ c̣n khoảng 8 tháng ;

2. - Kể từ ngày nhập Trường, ai chưa là hạ sĩ quan sẽ được thăng cấp Trung sĩ và lănh lương hàng tháng theo cấp bậc này. Những người khác có cấp bậc cao hơn tiếp tục lănh lương theo cấp bậc hiện tại của ḿnh;

3. - Mọi người phải cố gắng học hành để đạt kết quả tốt, nhằm cung ứng nhu cầu sĩ quan cho các đơn vị thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ bắt đầu thành lập vào năm 1949. Các sĩ quan huấn luyện viên toàn là những người tốt nghiệp từ Trường Vơ Bị Saint Cyr của Lục quân Pháp, sẽ giúp đỡ hướng dẫn các bạn học hành được dễ dàng . Nếu có điều ǵ cảm thấy chưa thông hiểu rơ ràng cặn kẽ th́ đừng ngại ngùng tham vấn quư vị ấy giúp đỡ bổ túc cho ;

4. - Nhà trường sẽ cung cấp ngay cho mọi người có đồng phục mới để cho được đồng nhất và cũng kể từ hôm nay không ai mang cấp bậc cũ của ḿnh nữa. Mọi người sẽ mang trên cầu vai áo huy hiệu Sinh Viên Sĩ Quan (kư hiệu Alpha bằng đồng mầu vàng gắn trên coulissant dạ (nỉ) mầu đen), đội calot nỉ đen trên đỉnh mầu vàng và 2 bên cạnh viền chỉ kim tuyến. Như vậy mọi người sẽ nhận biết rơ ràng các bạn đang là sinh viên của Trường đào tạo sĩ quan Việt Nam, do đó các bạn phải giữ ǵn phong thái tư cách cho thật đàng hoàng, đừng làm ǵ tổn hại đến thanh danh cá nhân và Nhà Trường.

E- Sĩ Số Khoá Sinh Toàn Khóa :

 Một tuần lễ sau ngày khai giảng khóa học, có thêm 6 khoá sinh đến tŕnh diện. Ban Giám Đốc bổ sung vào Trung đội 3 ( miền Bắc) . Đó là Nguyễn Hữu Có, Cao Hoàng Phiên (người miền Nam), Tôn Thất Đính, Lê Huy Luyện (người miền Trung, và Trần Thượng Phương, Trần văn Khoái (người miền Bắc). Khóa sinh Phương nguyên là Thượng sĩ Lính Khố Xanh (Garde Indigène) thời Pháp thuộc, tuổi đời cao ( hơn các khóa sinh khác khoảng hai chục, là thân phụ của Trần Đ́nh Thọ sau này cũng theo học Trường Vơ Bị Đà Lạt và trước 30/4/1975 Trần Đ́nh Thọ đă được thăng lên đến Chuẩn Tướng làm Trưởng Pḥng 3 Bộ Tổng Tham Mưu.

Thế là tổng số khoá sinh tăng lên 64 người. Nhưng ngày măn khoá chỉ có 63 người, v́ khóa sinh Thành già thuộc Trung đội 3 (miền Bắc) bỏ học nửa chừng.

Chương Tŕnh Và Thời Biểu học gồm toàn các môn thuộc lănh vực quân sự, không có chút nào thuộc lănh vực bổ túc văn hoá tổng quát.

Các môn học về tổ chức quân đội, lịch sử quân đội, lănh đạo chỉ huy, kỹ thuật tác chiến, lệnh hành quân, chức năng tổng quát quân vụ, xử dụng Liên Binh, thể dục quân sự (EPM=Éducation Phisique Militaire), quân sử các trận Đại Chiến Thế giới… đều do các huấn luyện viên cơ hữu của Trường đảm trách giảng dạy.

C̣n các môn chuyên nghiệp khác như trách vụ các Pḥng Tham Mưu, Hành Chánh ,Tài Chánh, Quân Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, Pháo Binh, Công Binh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp, Quân Cảnh, Quân Bưu, Hải Quân, Không Quân… đều do các sĩ quan chỉ huy thuộc các ngành liên hệ được Ban Giám đốc trường mời đến thuyết giảng và khảo hạch.

Thời biểu học hàng ngày thường là buổi sáng học ngoài đồng, buổi chiều trong chu vi Nhà Trường.

Băi tập thường xuyên hàng ngày là sân vận động Huế và các vùng phụ cận như: Xóm Mới, khu quán Cơm Âm Phủ, Chợ Cống. Thời gian học thực hành tác chiến trong thành phố th́ vào Thành Nội, tại vùng quanh sân bay, Hồ Tĩnh Tâm và khu thành Mang Cá. Khi học các chương tŕnh hành quân băng đồng, lục soát làng xóm, bảo vệ xa lộ và thiết lộ, th́ xuống vùng quanh chân núi Ngự B́nh từ Ga An Cựu xuống tới phi trường Phú Bài.

 F- Lễ Măn Khóa (Khóa 1)

Để chuẩn bị cho lễ măn khóa, Ban Giám Đốc Trường đưa nhà thầu may quân phục vào đo cắt may cho chúng tôi mỗi người một bộ Đại Lễ bằng kaki (quần dài, áo bốn túi), một cặp cầu vai nỉ đen trên có gắn kư hiệu Alpha vàng phía đầu vai với cờ Việt Nam ở chính giữa và nút mạ vàng khắc con rồng nổi ở đầu cầu vai nơi sát cổ áo.

 Một nhà mát mái lợp dạ, ba bề vách lửng bằng cót cao hơn 1 mét, được dựng lên sát tường chiếm hết phần ba sân tập họp bên cột cờ, để làm khán đài kê ghế dành cho quan khách đến dự lễ.

 Một sự kiện đặc biệt không ai ngờ là Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng  của Trường đă nhận được lệnh dẫn một phái đoàn khoá sinh đại diện Khóa đáp máy bay đi Đà Lạt tŕnh diện Quốc trưởng Bảo Đại. Số người được chọn là bao nhiêu và cũng không biết tên những anh em trong các Trung đội 1 (người Nam) và Trung đội 2 (người Trung),  nhưng chắc chắn toàn là những người xếp hạng đỗ cao, riêng Trung đội 3 (người Bắc) có 2 người là sinh viên Nguyễn Hữu Có và Nguyễn Khắc Thăng.

Giữa tháng 5 năm 1949, Lễ Măn Khóa được tổ chức đưới sự Chủ Tọa của ông Phan Văn Giáo ,Thủ Hiến Trung phần V́ệt Nam đại diện Quốc Trưởng Bảo Đại, với khoảng 100 quan khách Việt Pháp tham dự (trong đó có một số thân nhân của các bạn người miền Trung).

 Chương tŕnh diễn tiến như sau:

 - Nghi thức quân cách đón chào Chủ  Tọa;

- Lễ thượng Quốc Kỳ Việt Nam (không có cờ Pháp);

 - Khóa sinh đồng ca bản Quốc Ca Việt Nam (Tiếng Gọi Công Dân);

 - Nhạc Tưởng Niệm Tử Sĩ (ban quân nhạc Việt Binh Đoàn hoà tấu) .

Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng Trường đọc diễn văn phúc tŕnh tổng lược kết quả diễn tiến chưong tŕnh huấn luyện và trỉnh diện Khóa sinh;

Thủ Khoa là anh Nguyễn Hữu Có bước ra đứng trước toàn khóa đang xếp 2 hàng ngang trước khán đài, hô to: “A genoux les hommes!” (Quỳ xuống các người!). Mọi người cùng quỳ đầu gối phải xuống đất, chắp 2 tay lên đầu gối trái chờ lệnh, và anh Có cũng quỳ xuống tại chỗ.

Trung Tá Chaix nói lớn đại ư: “Hoàng Thượng chiếu chỉ đặt tên cho khoá là Khóa Bảo Đại”, rồi hướng dẫn Chủ Tọa ra sân gắn cầu vai Alpha lên 2 bên vai áo cho Thủ Khoa Có. Trong khi đó th́ 2 hàng khoá sinh quay mặt đối diện nhau và người nọ gắn cầu vai Alpha lên vai áo cho người kia.

Thủ tục gắn cầu vai Alpha xong th́ Chủ Tọa trở về đứng trước ghế danh dự của ḿnh, Thủ Khoa Có đọc lời “tuyên thệ”, đại ư: “Chúng tôi xin tuyên thệ, Trung thành với Tổ Quốc Việt Nam, Quyết hy sinh để bảo vệ nền Độc Lập Thống Nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam trường tồn cường thịnh, Luôn luôn nêu gương bảo vệ Danh Dự của một cấp chỉ huy”. Toàn thể Khoá sinh cùng đưa thẳng tay phải ra trước mặt và đồng thanh đáp lời: “Je le jure!” (Tôi xin thề!). Chủ Tọa lên tiếng chấp nhận lời thề và đưa tay ra dấu cho mọi người đứng lên. Thủ Khoa Có đứng lên hô lớn: “Debout les Officiers!” (Đứng lên các Sĩ Quan!). Mọi người đứng thẳng lên giữa những tràng pháo tay mừng vang dạy ṛn ră của toàn thể quan khách.

Tiếp ngay lúc đó, Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng Trường lại mời Chủ Tọa ra trao cho Thủ Khoa Có cây kiếm và chiếc cung cùng với bao mang 4 mũi tên, rồi hướng dẫn Chủ tọa trở về ghế ngồi.

Thủ Khoa Có đứng nghiêm rút kiếm ra khỏi vỏ làm động tác chào kính xong tra kiếm trở lại vỏ, rồi cầm cây cung lần lượt quay sang bốn hướng bắn 4 mũi tên đi, để biểu tượng cho ư chí “tang bồng hồ thỉ” của người Chiến sĩ quyết tâm đi khắp bốn phương trời để thi hành nhiệm vụ của ḿnh.

Buổi lễ Măn Khoá được kết thúc bằng 2 nhạc khúc “Chiến Sĩ Anh Hùng” và “Bạch Đằng Giang” do anh em Trung đội 3 (miền Bắc)  hợp ca 3 giọng với sự đệm đàn của anh Tôn Thất Đính, và 3 hoạt cảnh diễn tả câu truyện lịch sử “Trận Đống Đa” do quân Quang Trung chiến thắng quân Tầu vào dịp Tết Nguyên Đán tại Thành Thăng Long, do  các khóa sinh  Trung đội 1 và 2 phối hợp thực hiện.

Lễ măn khóa có thể coi là trang đầu tiên của cuốn nhật kư đời binh nghiệp sĩ quan Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được mở ra cho toàn thể sinh viên sĩ quan Khóa 1 (Bảo Đại) Trường Sĩ quan Việt Nam chúng tôi.

Nhưng có một điều thắc mắc lớn khiến mọi người phải suy nghĩ mừng lo lẫn lộn ngay sau khi dự Lễ Măn Khoá là, ai được chấm đậu lên Thiếu Úy, ai không? ngoại trừ khóa sinh Nguyễn Hữu Có Thủ Khoa, v́ Nhà Trường không tuyên bố kết quả xếp hạng ra Trường.

Mọi người rời Trường với kư hiệu Alpha không phải là cấp bậc được quy định trong quân đội lúc bấy giờ, tiếp tục lănh lương theo cấp bậc cũ của ḿnh  và Sự Vụ Lệnh rời Trường trở về đơn vị cũ ghi là Élève Officier X… Phải đợi đến 2 tuần lễ sau hết phép măn khóa tŕnh diện đơn vị mới có thể biết ḿnh được thăng cấp Thiếu Úy hay không.

G- Một Phần Thưởng Bất Ngờ , Chính Phủ Quốc Gia Dành Cho 20 Người Đứng Đầu Danh Sách Trúng Tuyển Sĩ Quan Khoá 1 (Bảo Đại).

Đến đầu tháng 10 năm 1949, anh Nguyễn Khắc Thăng người đậu Thứ Hai của toàn khóa  đang ở cùng Đại đội với Tôi  ( Nguyễn Huy Hùng  tác giả tài liệu [2]  ) tại Hải Pḥng được lệnh tŕnh diện Bộ Quốc Pḥng tại Sàig̣n để làm thủ tục xuất ngoại du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp.

Sau khi tới Pháp, anh Thăng biên thơ về thông báo cho Tôi biết là anh đang theo học Khoá Bổ túc Thực Hành Bộ Binh (École d’Application de l’Infantery) cùng với các Thiếu Úy Pháp tốt nghiệp Trường Vơ bị Saint Cyr và bạn cùng tốt nghiệp Khoá 1 của chúng tôi là các Thiếu Úy Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Chuân, Trần Văn Hổ (về sau các anh Thiệu, Quang, Trung  và Chuân được thăng lên cấp Tướng) .

Cũng trong thời gian đó th́ anh Tôn Thất Xứng học tại trường Thiết Giáp Binh Saumur và người sau cùng là anh Nguyễn Quang Sanh học Trường Hiến Binh tại Melon.

Một năm sau vào đầu tháng 10 năm 1950,  Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm và Tôi được Bộ Quốc Pḥng tại Saigon gọi tŕnh diện làm thủ tục du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp.

Cùng xuất ngoại kỳ này với chúng tôi có mấy bạn cùng Khoá 1 là Thiếu Úy Trần Ngọc Thức (miền Nam, sau này có thời gian làm Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Công Binh), Thiếu Úy Lê văn Sài (cũng người miền Nam sau này làm việc bên Không Quân), Thiếu Úy Nguyễn Khương (người Trung, sau này có thời gian làm Chỉ Huy Trưởng Viễn Thông của Binh chủng Truyền Tin).

Anh Thức học Sĩ quan Công Binh tại Angier, anh Sài học Hành Chánh Tài Chánh tại Mont Pellier, anh Đạm  học Sĩ quan Pháo Binh tại Idar thuộc Pháp ở bên Đức. Nhưng v́ vùng Idar lạnh quá chịu không nổi nên anh Đạm đă xin chuyển trường về học khoá Sĩ quan Hành Chánh Quân Nhu tại Mont Pellier.

C̣n anh Khương và Tôi theo học Sĩ Quan Truyền Tin ở Trường Truyền Tin (École d’Application des Transmissions) tại Montargis cách Thủ đô ánh sáng Paris khoảng hơn 1 giờ xe hỏa về hướng Nam. Chúng tôi học chung với các Thiếu Úy Pháp vừa tốt nghiệp Khoá Général Frère tại Trường Vơ bị Saint Cyr ra.

Đầu tháng 6 năm 1951, đúng theo quy chế dành cho sĩ quan hiện dịch tốt nghiệp trường Sĩ Quan Việt Nam, Tôi và toàn khóa được Quốc Trưởng Bảo Đại kư sắc lệnh thăng cấp Trung Úy đương nhiên sau 2 năm tốt nghiệp.

Cuối tháng 6 năm 1951 măn khoá học hồi hương về Sàig̣n vào đầu tháng 7, Trung Tá Nguyễn Văn Vận (sau này là Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 tại Hà Nội) Đổng lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng đă tŕnh Thủ Tướng Chính phủ Trần Văn Hữu kiêm Bộ Trưởng Quốc Pḥng kư lệnh bổ nhiệm Tôi vào phục vụ tại Nha Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng tại Sàig̣n .

Vào năm 1953, anh Nguyễn Khắc Thăng bị thương cụt một chân tại miền Bắc được du học Pháp lần thứ 2  ( đă đi tu nghiệp ở Pháp năm 1949 như ghi ở trên) và sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ Huy Tham Mưu (École Supérieure de Guerre) tại Paris về anh Thăng được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt, ít lâu sau qua đời v́ tai nạn xe hơi.

Một điều khó quên chót về khóa 1 là, vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ư tại miền Nam Việt Nam để truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, rồi sau đó đổi tên nước thành Việt Nam Cộng Ḥa thay cho Quốc Gia Việt Nam để đích thân lên làm Tổng Thống điều hành đất nước thay thế cựu Hoàng Bảo Đại. Do đó sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa chính thức ra đời vào ngày 26 tháng 10 năm 1956, một số anh em thuộc Khoá 1 Bảo Đại đang làm việc tại Sàig̣n và vùng phụ cận đă được anh Bùi Đ́nh Đạm đang làm Thiếu Tá Tham Mưu Trưởng Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức mời họp bàn thảo việc xin đổi tên Khóa, mọi người có mặt đă đồng ư lựa tên Phan Bội Châu thay cho Bảo Đại  và đă làm tờ Đề Nghị tŕnh lên Tổng Thống Diệm cứu xét và Tổng Thống Diệm đă chấp thuận nên kể từ đó Khoá 1 mang tên mới là Khóa Phan Bội Châu .

 

Phần 2 : Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt

Theo tài liệu [1,5,6] : Sau hai năm, khi đă đào tạo được 2 khóa : Khóa 1 Phan Bội Châu (1948-1949) và khóa 2 Quang Trung (1949-1950) tại Huế, Trường Sĩ Quan  Việt Nam được chuyển về Đà Lạt sáp nhập với Trường Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông của Quân Đội Pháp (École Militaire Inter-Armes de Dalat)  nơi đây có đầy đủ các điều kiện về khí hậu và huấn luyện để rèn luyện các sĩ quan sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện khốc liệt của chiến trường mai hậu.

Theo tài liệu [1] : Trường được cải tổ toàn diện và được đổi tên thành Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt  .

Theo tài liệu [6] : Trường Vơ Bị Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông của Quân Đội Pháp được thành lập tháng 7 năm 1946 tại Đà Lạt , tức hai (2) năm trước  Trường Sĩ Quan Việt Nam Huế. Trường Vơ Bị Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp.

Năm 1947-1948, trường Vơ Bị Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông  dọn  về Vũng Tàu và có tên mới là École Militaire Nuoc Ngot (Trương Vơ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu).

Theo tài liệu [11] : Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Kiểm, Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam năm 1964-1965 , tốt nghiệp Khóa 1 Nguyễn Văn Thinh tại trường Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946.

Theo tài liệu [7,8] : Trường Sĩ Quan Việt Nam (Huế) (1948-1950)  được di chuyển lên Đà Lạt và được đổi tên thành Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt theo Nghị định số 143/ND của Thủ Tướng Trần Văn Hữu kư ngày 19 tháng 8 năm 1950 .

Chỉ Huy Trưởng của Trường là Trung Tá- Đại Tá Gribius , Thiếu Tá LeFort và Thiếu Tá-Trung Tá Cheviotte (Chỉ Huy Trưởng  cuối cùng người Pháp năm 1954 ).

 Ngày 1 tháng 10 năm 1950, Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt  khai giảng Khóa 3 Trần Hưng Đạo

Mặt khác ,theo tài liệu [9] : Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt được Quân Đội Quốc Gia khai sinh ngày 02  tháng 12 năm 1950 (tức là sau ngày khai giảng Khóa 3 Trần Hưng Đạo ?) .

 

Cổng  Trường  Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt - H́nh trích từ tài liệu [10] 

Theo tài liệu [11] : Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ  ,  Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam năm 1965-1966 và 1972-1975 , theo học Khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt năm 1950.

Đại Tá Đỗ Ngọc Nhận , Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam năm 1966-1968 ,theo học Khóa 3 Trần Hưng Đạo tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt và tốt nghiệp vào năm 1951.

Trung Tướng Lâm Quang Thi, Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam năm 1968-1972, theo học Khóa 3 Trần Hưng Đạo tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt.

Theo tài liệu [2] :  Sau khi Trường Sĩ Quan Việt Nam (Huế) di chuyển  về Đà Lạt, cơ sở cũ ở Huế   được phá đi cùng với biệt thự bên cạnh để xây cất Trường Vơ Bị Địa Phương (École Militaire Régionale) thuộc Quân Khu 2, làm nơi đào tạo các Chuẩn Úy (Aspirant) đáp ứng cho nhu cầu bành trường của Quân đội. Mấy năm sau, Trường Vơ Bị Địa Phương  bị giải tán , cơ sở này được giao cho Quân Vụ Thị Trấn Huế quản trị dùng làm Câu Lạc Bộ và nhà văng lai cho sĩ quan độc thân.

Theo tài liệu [5] : Các khóa từ khóa 3 (năm 1950) đến khóa 12 ( năm 1955) tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt ,  tuỳ theo nhu cầu, các sinh viên sĩ quan học từ 7 tháng đến hơn 1 năm.

 

Tr%25C6%25B0%25E1%25BB%259Dng+V%25C3%25B5+B%25E1%25BB%258B+Li%25C3%25AAn+Qu%25C3%25A2n+DALAT+4-+1952_result

 

Quốc trưởng Bảo Đại thăm Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt, tháng 4, năm 1952 – H́nh trích từ tài liệu [12]

Theo tài liệu [13] : Cho đến năm 1954, tất cả các Chỉ Huy Trưởng và huấn luyện viên đều là người Pháp. Việt Nam lần hồi đảm trách việc kiểm soát sau khi Hiệp định Genève  được kư kết vào 20 tháng 7 năm 1954 .

Vào năm 1955, Trung Tá  Nguyễn Văn Chuân  và Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu  là hai Chỉ Huy Trưởng người Việt đầu tiên của Trường Vơ Liên Quân Đà Lạt. Hai vị này tốt nghiệp Khóa 1 Trường Sĩ Quan Việt Nam . 

Bảng 1 dưới đây  trích từ tài liệu [5] tóm tắc tất cả các vị  Chỉ Huy Trưởng người Pháp  tại  Trường Sĩ Quan Việt Nam (Huế) vả trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt  từ năm 1948 đến 1954 và các vị  Chỉ Huy Trưởng người Việt  trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt  từ năm 1954 cho đến năm 1958 . 

Bảng 1 : Khóa Vơ Bị từ Huế đến Đà Lạt

Khóa   Tên khóa

           Niên khóa

           Tên Thủ khoa    Thời gian  Khóa sinh  Chỉ huy  Tên trường    Chú thích

1            Phan Bội Châu

1948-1949
 Nguyễn Hữu Có  01/10/1948   64/56       Trung tá  Trường Sĩ quan

                              01/6/1949              Chaix                    Việt Nam

                              (8 tháng)               

2         Quang Trung         01/9/1949    109/103
1949-1950             01/7/1950
Hồ Văn Tố            (10 tháng)

3          Trần Hưng Đạo    01/10/1950   143/135   Trung tá   Vơ bị Liên quân Di chuyển về
            1950-1951            01 /7/1951                              Đại tá                                                Đá Lạt
            Bùi Dinh               (9 tháng)        Gribius
4          Lư Thường Kiệt    01/4/1951     120/100
            1951                     11/12/1951
           Nguyễn Cao         (7 tháng)                                                           

5          Hoàng Diệu         25/7/1951      250/246     Thiếu tá
           1951-1952           20/4/1952                            Le Fort
           Dương Hiếu Nghĩa  (9 tháng)                                                                       

6          Đinh Bộ Lĩnh       16/12/1951   200/183
           1951-1952             01/10/1952
            Lư Ṭng Bá          (9,5 tháng)                        

7         Ngô Quyền            16/5/1952    163/150
1952-1953             01/2/1953
 Trương Quang Ân (8,5 tháng)

8         Hoàng Thụy Đông 27/10/1952   222/163
1952-1953             28/6/1953
Nguyễn Bá Th́n    (8 tháng)                                     

9         Huỳnh Văn Louis   01/1/1953    180/150       Thiếu tá
1953                       01/8/1953                        Cheviotte
Nguyễn Thành Toại (7 tháng)

9B       Đống Đa                01/9/1953     120/116            
           1953-1954             16/3/1954

            Nguyễn Xuân Diệu (6,5 tháng)
10        Trần B́nh Trọng     01/10/1953   525/442
            1953-1954              01/6/1954

            Nguyễn Tấn Đạt    (8 tháng)
                                  

10B     Cương Quyết         19/3/1954      319/298      Trung tá
1954                       01/10/1954                  Cheviotte         
Ngô Văn Lợi           (6,5 tháng)         
                       

            Khóa cấp tốc
FACS Trung đội trưởng  01/6/1954         240/210            
           1954                     01/10/1954
                                        (4 tháng)                                                                    Khóa sinh là                                                                                                                                            những Hạ sĩ quan

                                                                                                                từ các đơn vị    

                                                                                                                              được chọn để

                                                                                                                              đào tạo cấp tốc ,

                                                                                                                              tốt nghiệp với

                                                                                                                   cấp bậc Chuẩn 

                                                                                                                              úy hiện dịch. 

                                                                                                                

11       Phạm Công Quân  01/10/1954   186/162
1954-1955               01/5/1955
Ngô Văn Phát         (7 tháng)              Trung tá                  Bắt đầu giai đoạn

                                                           Cheviotte        sĩ quan Pháp

                                                           Tr/tá Chuân    chuyển chức Chỉ

                                                                                          Huy qua Việt Nam               

11B     Vương Xuân Sỹ    01/11/1954    210/200
            1954-1955             01/11/1955
           Nguyễn Văn Ngà    (12 tháng)                                                                                        

12        Cộng Ḥa              24/10/1955     186/147
           1955-1956               2/12/1956
           Phạm Phùng          (14 tháng)                         Tr/tá Chuân
                                                                                        Tr/tá Thiệu                             

13        Thống Nhất           24/4/1956      210/198           Tr/tá Thiệu
            1956-1958              13/4/1958                               Đ/tá Tố
           Nguyễn Văn Bá      (23,5 tháng)                                                  

14        Nhân Vị                  04/2/1957      137/124            Đ/tá Tố
           1957-1960              17/1/1960                               Tr/tá Thiệu
           Nguyễn Cao Đàm   (35,5 tháng)                            Tr/tướng Kim

15        Lê Lợi                     05/4/1958       64/57   Tr/tá Thiệu   Vơ Bị Quốc
           1958-1961              03/6/1961                               Tr/tướng Kim       Gia Việt Nam
           Vơ Trung Thứ        (38 tháng)                         Đ/tá Huyến
                                  

16        Ấp Chiến Lược       23/11/1959     326/226        Tr/tướng Kim
           1959-1962               22/12/1962                             Đ/tá Huyến
          Bùi Quyền                (37 tháng)

17        Lê Lai                      11/11/1960     210/189         Đ/tá Huyến
           1960-1963               30/3/1963
           Vĩnh Nhi                  (28,5 tháng)                          

18        Bùi Ngươn Ngăi     23/11/1961     201/191             Đ/tá Huyến
          1961-1963              23/11/1963
           Nguyễn Anh Vũ      (24 tháng)

19        Nguyễn Trăi           23/11/1962     412/391          Đ/tá Huyến
           1962-1964             28/10/1964                           Th/tướng Oai
           Vơ Thành Kháng  (23 tháng)                         Đ/tá Trung

                                                                                  Ch/tướng Kiểm           

20        Nguyễn Công Trứ  07/12/1963     425/407         Th/tướng Oai
           1963-1965             20/11/1965                            Ch/tướng Kiểm
           Quách Tinh Cần     (23,5 tháng)                           Đ/tá Thơ                    

21        Chiến Thắng         04/12/1964      248/235             Ch/tướng Kiểm
             Nông thôn            26/11/1966                            Đ/tá Thơ
            1964-1966                                                     Đ/tá Trung
            Mai Văn Hóa      (23,5 tháng)                               Đ/tá Nhận                  

22A     Huỳnh Văn Thảo  06/12/1965       184/173             Đ/tá Thơ
            1965-1967            02/12/1967                             Đ/tá Nhận
           Nguyễn Văn An   (24 tháng)                                                           

22B     Trương Quang Ân 06/12/1965     92/92   Đ/tá Nhận
           1965-1969             12/12/1969                             Th/tướng Thi
            Nguyễn Đức Phống (48 tháng)                                                    

23       Nguyễn Đức Phống  18/12/1966   282/241        Đ/tá Nhận                                                                       
1966-1970                 18/12/1970                        Th/tướng Thi
Trần Vĩnh Thuấn       (48 tháng)                                                    

24        Đỗ Cao Trí                 07/12/1967    312/245             Đ/tá Nhận
           1967-1971                 17/12/1971                             Th/tướng Thi
           Vũ Xuân Đức            (48 tháng)                                                     

25       Quyết Chiến               10/12/1968     298/260 Th/tướng Thi
Tất Thắng                   15/12/1972      Th/tướng Thơ
1968-1972                  (48 tháng)
Nguyễn Anh Dũng
                       

26        Nguyễn Viết Thanh    24/12/1969    196/175             Th/tướng Thi 
            1969-1974                 18/1/1974                               Th/tướng Thơ
           Nguyễn Văn Lượng   (48,5 tháng)                                                              

27        Trương Hữu Đức       26/12/1970    192/182            
            1970-1974                 27/12/1974
            Hoàng Văn Nhuận    (48 tháng)                                                     

28        Nguyễn Đ́nh Bảo      24/12/1971     298/255
            1971-1975                 21/4/1975
            Hồ Thanh Sơn          (40 tháng)                                                                                        

29       Hoàng Lê Cường       29/12/1972    315/291 Th/tướng Thơ  Măn khóa sớm                     1972-1975                 21/4/1975
Đào Công Hương     (28 tháng)                              

30        Không tên
           1974-1975                 26/1/1974       223/222                                                                      Đang thụ huấn                                            30/4/1975
                                              (15 tháng)                  

31        Không tên                  10/1/1975      240/236
           1975                           30/4/1975

                                              (3,5 tháng)

 

Phần 3 : Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam

Theo tài liệu [1] : Năm 1955, thoát khỏi sư đô hộ của thực dân Pháp, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thực hiện cuộc cách mạng Quốc Gia và khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Quân Đội Quốc Gia với toàn vẹn chủ quyền được thống nhất chỉ huy dưới danh xưng Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa.

Trường Vơ Bị Liên Quân cũng nằm trong khuôn khổ cải cách đó và một lần nữa được cải danh thành Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam ( The Vietnamese National Academy), do Nghị Định 317/ QP/ TT ngày 29 tháng 7 năm 1959 của Bộ Quốc Pḥng , được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kư với sinh viên tốt nghiệp có tŕnh độ Đại học.

Nhưng Bàng 1 ở trên ghi :  Trường Vơ Bị Liên Quân đổi tên thành trường Vơ Bị Quốc Ǵa vào năm 1958 .

Mặt khác theo tài liệu [2] : Trường  École Militaire Inter-Armes de Dalat chánh thức đổi lại thành Trường Vơ Bị Liên Quân sau khi người Pháp rời Việt Nam  năm 1955 và trở thành Trường Vơ Bị Quốc Gia từ tháng 4 năm 1963 cho đến khi giải tán (Sắc Lệnh 325-QP, 10-4-1963).

(Phụ chú : Như  ghi ở trên ,Trường Vơ Bị Liên Quân được đổi tên  thành Trường Vơ Bị Quốc Gia vảo năm 1958 hay 1959 . Nay qua đoạn văn trên , người ta có thể hiểu rằng , đến  tháng 4 năm 1963 , Trường Vơ Bị Liên Quân  bị giải tán  theo Sắc Lệnh 325-QP, 10-4-1963 ? Xin các bậc thức giả bổ túc thêm. Xin đa tạ ).

Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam (VBQGVN) có nhiệm vụ huấn luyện sĩ quan hiện dịch  ṇng cốt để cung cấp cho ba Quân chủng: Hải Quân, Lục Quân, và Không Quân của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa ,

Các sĩ quan này phải có khả năng chỉ huy, chiến đấu trong thời chiến và một tŕnh độ kiến thức bậc đại học, để sẵn sàng phục vụ đất nước trong thời b́nh.

Hơn nửa theo tài liệu  [9] :  Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan hiện dịch văn vơ song toàn để trở thành những nhà lănh đạo quân sự và hành chánh cho cả thời chiến lẫn thời b́nh.

Theo tài liệu [14] : Khóa 15 Lê Lợi năm 1959 (1958 theo Bảng 1 ở trên)  thụ huấn trong giai đoạn trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt được đổi tên thành Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam. Thí sinh  muồn vào học phải có bằng Tú Tài 1 hay tương đương ,trúng tuyển kỳ thi văn hóa và   qua một cuộc Trắc nghiệm Tâm Lư bởi cơ quan Trắc Nghiệm Bộ Tổng Tham Mưu.

Năm 1959 , Chỉ Huy Trưởng của Trường là Thiếu Tướng Lê Văn Kim với sự phụ tá của Chỉ Huy Phó kiêm Văn Hóa Vụ Trưởng Trung Tá (Đại Tá ?)  Trần Ngọc Huyến.

Năm 1960 , Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định Đại Tá   Trần Ngọc Huyến làm Chỉ Huy Trưởng  kiêm Văn Hóa Vụ Trưởng , thay thế Thiếu Tướng Lê Văn Kim. Ông được giao nhiệm vụ cải tổ toàn diện việc huấn luyện người sĩ quan hiện dịch. Đại Tá  trừ bị Trần Ngọc Huyến là người tài năng, tuổi trẻ tài cao, nuôi nhiều hoài băo, cũng là một người rất đươc Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tín nhiệm.

Chỉ Huy Trưởng Trần Ngọc Huyến chủ trương áp dụng triệt để chương tŕnh huần luyện quân sự và văn hóa phỏng theo chương tŕnh đào tạo các sĩ quan Học viện Quân sự Hoa Kỳ ( US Military Academy Westpoint ). Ông muốn người sĩ quan không bị thành kiến coi là một thứ vơ biền như các ông quan vơ thời phong kiến hoặc các sĩ quan trung sĩ Pháp cũng có, nhưng chính là để thưc hiện được ư muốn của vị Nguyên Thủ Quốc Gia, đó là : Thời b́nh phải có khả năng xây dựng đất nước, như Napoleon Đệ Nhất của Pháp đề ra khi lập trường École Polytechnique ( trường X Bách Khoa Paris) .

Theo tài liệu [11] : Đại Tá Trần Ngọc Huyến đặc biệt huấn luyện sinh viên sĩ quan về lănh đạo chỉ huy, khơi dậy ḷng yêu nước, ḷng tự hào đă xuất thân từ trường Vơ Bị, và tinh thần dấn thân phục vụ cho quân đội Việt Nam Cộng Ḥa.

Ông khởi xướng việc phát hành Tập San Đa Hiệu theo định kỳ dành cho các sinh viên sĩ quan. Chương Tŕnh Dạ Lan cũng do Đại Tá Huyến đă khuyến khích, phác họa, và chỉ thị Đài Phát Thanh Quân Đội thực hiện khi ông làm Cục Trưởng Cục Tâm Lư Chiến.

Theo tài liệu [5] & [13] : Quyết tâm và mục đích của các sĩ quan tốt nghiệp từ trường VBQGVN về việc tái thiết đất nước, bảo vệ quê hương và phát huy ḷng kiêu hănh của Quốc Gia được bao gồm trên huy hiệu của trường Vơ Bị.

 

 

Phù hiệu  Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam

Huy hiệu của Trường  Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam được thực hiện từ lúc Trường di chuyển về Đà Lạt, do sinh viên sĩ quan Đỗ Ngọc Thuận Khóa 3 Trần Hưng Đạo , sáng tác khi đang học trong Trường.

Huy hiệu mang ư nghĩa :

Huy hiệu gồm có một tấm khiên màu xanh  dương với h́nh thể Việt Nam in bằng màu trắng.

Màu xanh dương  tượng trưng cho ư chí kiêu hùng của Sinh viên Sĩ quan,

 Ôm trọn giang sơn gấm vóc từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, ṿng bản đồ Việt Nam, là h́nh một con Rồng Vàng, trên khung viền màu đỏ, hàm răng Rồng ngậm chặt thanh kiếm.

Màu đỏ tượng trưng cho sự hy sinh của dân tộc Việt trong nhiệm vụ bảo vệ quê hương. Con Rồng Vàng là biểu tượng con Rồng cháu Tiên của ḍng giống Lạc Việt;

Thanh kiếm thẳng đứng biểu trưng lời thề nguyền thi hành đại nghĩa của người sinh viên sĩ quan  sẵn sàng chống giữ đất nước thân yêu.

 

Theo tài liệu [1] : Năm 1960, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là người đă đặt viên đá đầu tiên xây dựng một cơ sở huấn luyện khang trang tọa lạc trên ngọn đồi 1515, gần hồ Than Thở, khoảng 5 cây số phiá Bắc trung tâm thị xă Đà Lạt.

(Phụ chú : Hồ Than Thở (Lac des Soupirs, Lake of Sighs) là hồ đầu tiên từ thượng lưu suối Cam Ly. Trước đây vùng hồ Than Thở với một vùng đầm lầy  gọi là Tơnô Pang Đ̣ng. Vào năm 1917 (hay 1938?) người Pháp đă đắp đập ngăn ḍng suối Cam Ly xây hồ rộng 8,5 mẫu  cung cấp nước cho người dân thị thành Đà Lạt, đặt tên là Lac des Soupirs (nghĩa là tiếng ŕ rào hoặc than thở).Ngoài tên gọi là hồ Than Thở, người dân Đà Lạt c̣n gọi là hồ Sương Mai ).

Aucune description de photo disponible.

Lac des Soupirs - H́nh trích từ tài liệu [15] 

Aucune description de photo disponible.

Hồ Than Thở - H́nh trích từ tài liệu [15] 

Theo tài liệu [5] :  Năm  1961, cơ sở học đường mới của trường Vơ Bị Quốc Gia được xây cất trên ngọn đồi 1515 ở phía bắc Thành phố Đà Lạt  .

Theo tài liêu [13] :  Địa diểm của Trường tọa lạc một cách kiêu hănh trên vùng đồi núi có cao độ hơn 5000 bộ, giữa một rừng thông sầm uất thơ mộng gần thành phố Đà Lạt, tại miền Cao nguyên thuộc Quân khu 2 với khí hậu điều ḥa quanh năm .

Theo tài liệu [4] : Khi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, Khôi Nguyên 1 đại học Kiến Trúc ở Roma (Ư) về nước phục vụ, chính Tổng Thống Diệm đă đem theo lên Đà Lạt để khảo sát sơ đồ xây cất trường VBQGVN.Theo thế đất đồi 1515, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đă khuyên cáo nên uốn cong 2 building (ṭa nhà)  bên cánh phải, chỉ riêng để tạo nên vẻ duyên dáng cho khu doanh trai sinh viên sĩ quan, c̣n tiện nghi vẫn thế mà chi phí tăng lên thêm gần 2 triệu (giá vàng 3400 đồng / 1lượng), cũng đă được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chấp thuận ngay.

Tuy sinh viên sĩ quan Khóa 14 (vào trường năm 1957) đă làm hàng quân Danh Dự để Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm Đặt Viên Đá Đầu Tiên cho trường mới,

 

Lễ đặt viên đá đầu tiên  xây TVNQG bởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm-H́nh trích từ tài liệu [16] 

Theo tài liệu [16] :  Khóa 16 (vào trường  cuối năm 1959),  vẫn ở trường cũ gần Hồ Mê Linh, đó là những dăy nhà xây cất khi trước của Quân Y Viện Pháp Catroux, cộng thêm các nhà mua được của trang trại Farraut.

(Phụ chú : Hồ Mê Linh thời Pháp tên là Lac Saint Benoit . Trước 1954 , hồ này là một marina sang trọng có thuyền buồm lướt trên hồ. Xung quanh khu này là những villa nằm rải rát rất đẹp  và thơ mộng như một thành phố nhỏ ở Âu châu ) .

Hồ Mê Linh - Đà Lạt năm 1949 – H́nh trích từ tài liệu [17] 

Phải đến năm 1961, khóa 16 khai trương trường mới trên đồi 1515 gần hồ Than Thở và cũng đă đổ mồ hôi trong nhiều Chủ Nhật  xung công không đi phố, để lấy cỏ ở các đồi lân cận đem về trồng lại trên Vũ Đ́nh Trường.

Mặt khác theo tài liệu [18] : Vào khoảng năm 1964, chương tŕnh xây cất từ năm 1961 chưa hoàn tất. Bộ Chỉ Huy chưa xây xong. Văn pḥng Chỉ Huy Trưởng c̣n ở trên lầu Nhà B, Văn pḥng Văn Hoá Vụ Trưởng và Pḥng Điều Hành Văn Hoá Vụ  ở trên lầu nhà A. Sau mười năm nhà trường đă có thêm những cơ sở lớn mà các đại học bên ngoài mong ước như Nhà Thí Nghiệm Nặng, Nhà Văn Hoá Mới, Pḥng Ấn Loát và Thư Viện.

 

 

Trường VBQGVN nh́n từ đồi Bắc- H́nh trích từ tài liệu [19] 

Không ành  Trường Vơ Bị Quốc Gía Việt Nam năm 1968 - H́nh trích từ tài liệu [9] & [21] &  [22]

 

 

Không ảnh trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam – H́nh trích từ tài liệu [13]

 

Hai dăy nhà phía trái h́nh xây theo h́nh cung  – H́nh trích từ tài liệu [22]

Cổng trường Vơ Bị Quốc Gia

Thao diễn trong trường Vơ Bị Quốc Gia

Sinh Viên Trường Vơ Bị Quốc Gia thao diễn

Bảng 1 ở trên trích từ tài liệu [5] ghi tên tất cả các vị  Chỉ Huy Trưởng  Trường Vơ Bị Quốc Gia  Việt Nam từ năm 1958  đến năm 1975 . Chỉ huy trưởng  đầu tiên là  Trung Tá Nguyễn Văn  Thiệu, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Đại Tá Trần Ngọc Huyến và chỉ huy trưởng  cuối cùng là Thiếu Tướng  Lâm Quang Thơ .

Sau đây là các giai đoạn phát triển của các Trường  Vơ Bị kể trên  theo tài liệu [3] :

Giai đoạn 1948- 1955 từ khóa 1 đến khóa 11 :  Chương tŕnh huấn luyện hoàn toàn về quân sự  (sau đó đi du học về các chương tŕnh chuyên môn và văn hóa cũng như môn sinh ngữ) ;

Theo tài liệu  [5] : Khi mới thành lập năm 1948, thời gian huấn luyện và đào tạo là chín (9) tháng.

Giai đoạn 1955-1958 hai khóa đầu : Khóa 12 có thêm chương tŕnh văn hóa (chương tŕnh học một (1) năm và Khóa 13 chương tŕnh học  hai (2) năm . Ngoài ra c̣n trau dồi thêm về văn hóa gồm các môn Anh Văn, Pháp Văn, Sử Địa, Toán, Lư Hóa, và Văn Chương Việt Nam ;

Theo tài liệu [5] :  Năm 1957, thời gian huấn luyện và đào tạo tăng lên thành 12 tháng (1 năm)? .

Giai đoạn 1957-1961, Khóa 14 và 15: Chương tŕnh  ba (3) năm, văn hóa bậc Trung Học (Tú Tài 2) và 1 năm Đại Học ;

Giai đoạn 1959-1963, Khóa 16 và 17:  Chương tŕnh ba (3) năm , văn hóa bậc Cao Đẳng Đại Học ;

Theo tài liệu  [1] : Từ 1959, do nhu cầu chiến trường, chương tŕnh huấn luyện của các khoá thay đổi theo thời gian thụ huấn, gần 4 năm (?) rồi trở lại 2 năm.

Giai đoạn 1961-1967: Trở lại chương tŕnh 2 năm (khóa 18, 19, 20, 21 và 22A), văn hóa bậc Cao Đẳng Đại Học ;

Theo tài liệu [5] : Đến năm 1961, chương tŕnh hai (2) năm .

Theo tài liệu [9] :  V́ phải đáp ứng với cuộc chiến tranh chống Cộng đang trở nên khốc liệt nên kể từ tháng 8 năm 1962, TVBQGVN tạm rút ngắn chương tŕnh huấn luyện 4 năm (?) c̣n 2 năm.

Theo tài liệu [5] : Đến giữa thập niên 1960, khóa học của trường Vơ bị Đà Lạt là chương tŕnh 3 năm sau lại tăng lên 4 năm (bắt đầu áp dụng từ năm 1966).

Giai đoạn 1965-1975, từ khóa 22B đến khóa 31: Chương tŕnh 4 năm, văn hóa bậc Đại Học Khoa Học.

Theo tài liệu [4] : Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Chỉ Huy Trưởng của Trường năm 1960 là người  nâng thời gian huấn luyện từ 1 năm qua thời gian giao thời 2 năm và sau cùng 4 năm, bắt đầu từ khóa 16. Nhưng v́ chính biến với áp lực cộng quân gia tăng, Khóa 16 ra trường sớm hơn dự liệu, chỉ thụ huấn hơn 3 năm. Khóa 17 hơn 2 năm, Khóa 18 trở lại 2 năm. Đến khóa 22B mới thực sự được thụ huấn chương tŕnh 4 năm cho đến Khóa 27.

Theo tài liêu [1] : Từ 1962, các ứng viên muốn gia nhập Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam phải tối thiểu có bằng Tú Tài 2 và được chọn lọc qua một cuộc khảo sát.

Hơn nửa theo tài liệu [12] & [20] :

Để được thu nhận thụ huấn, các ứng viên dân sự phải hội đủ các điều kiện sau đây:
Từ 17 đến 22 tuổi ;

Là công dân Việt Nam ;

Chưa khi nào lập gia thất và nếu được chấp nhận thụ huấn, cam kết không lấy vợ cho đến sau khi tốt nghiệp ;

Có hồ sơ hạnh kiểm tốt ;

Có thể lực tốt và đầy đủ sức khỏe với chiều cao tối thiểu là 1 thước 60 phân (khoảng 5 feet 4 inches ) ;

 Có Tú Tài 2 ban Toán hay Khoa Học hoặc chứng chỉ văn bằng ngoại quốc tương đương; 

Trúng tuyển chương tŕnh khảo thí của trường VBQGVN ;

Các ứng viên được chọn lọc qua một cuộc khảo sát.

Ngoài ra theo tài liệu [22] :

1. Thông báo tuyển sinh: Khoảng tháng 8 năm 1963, Trường VBQGVN ra thông báo sẽ thâu nhận 400 SVSQ Hiện Dịch Khóa 20 (Nguyễn Công Trứ). Điều kiện nhập học miễn thi văn hóa cho những thanh niên có bằng Tú Tài 2 (Việt hay Pháp) các Ban sau đây:

- Việt : Các ban A,B và Kỹ Thuật ;

- Pháp: Technique, Math-Elém, Science Exp.

Không thu nhận thí sinh có bằng Tú Tài 1 hay 2 các ban Văn Chương và Cổ Ngữ.

Ngoài ra, thông cáo đề cập tới quyền lợi và SVSQ cam kết không lập gia đ́nh trong thời gian thụ huấn. Đơn xin vượt mức dự tuyển phải qua một kỳ thi.

2. Tuyển sinh: Hết hạn nộp đơn một số thanh niên và cựu quân nhân đủ điều kiện miễn thi. Hàng ngàn thanh niên c̣n lại phải qua kỳ thi để tuyển chọn đủ số. Các thí sinh được thu nhận sẽ do các vùng chiến thuật gọi lập thủ tục và hướng dẫn tŕnh diện Trường Vơ Bị Quốc Gia tại Đà Lạt.

Theo tài liệu [13] : Không giống như các trường Đại học quân sự Hoa kỳ v́ không có sự chỉ định trực tiếp các sinh viên được thu nhận theo học trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Trong những căn nhà (ṭa nhà ?) được kiến trúc bắt đầu từ năm 1961 , các sinh viên sĩ quan cư ngụ hai hoặc ba người trong một pḥng ngủ của 4 doanh trại, mỗi doanh trại gồm 100 pḥng ngủ. Một phạn xá rộng lớn có khả năng dọn ăn cho 1200 người một lúc.

Sinh viên sĩ quan được tổ chức thành Trung đoàn gồm hai Tiểu đoàn, mỗi Tiểu đoàn có 5 Đại đội. Ngoài ra c̣n có Hệ Thống Chỉ Huy và Chương Tŕnh Huấn Nhục cho tân sinh viên giống như chương tŕnh tương tự tại West Point.

 

Pḥng ốc của SVSQ - H́nh trích từ tài liệu [19] 

 

Sau đây là  10 Điều Tâm Niệm Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) / Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam trích từ tài liệu  trích từ tài liệu [21] :

 

1.     Tự thắng để Chỉ Huy là điều kiện tiên quyết đề thành công;

2.     Danh dự là kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy tưởng và hành động của người SVSQ;

3.     Thành thực với bản thân, tín nghĩa với đồng bạn, trung thực với cấp chỉ huy là căn bản tác phong đạo đức cảu cán bộ;

4.     Kỷ luật SVSQ là kỷ luật thép đặt trên căn bản tinh thần tự giác;

5.     Ư thức trách nhiệm là bước đầu trên đường phục vụ vơ nghiệp;

6.     Phát huy khả năng toàn diện và trau dồi kiến thức trong hiện tại là nhiệm vụ chính của người SVSQ trong thời gian thụ huấn;

7.     Sinh hoạt đơn vị là nhu cầu để phát huy tinh thần đồng đội và khả năng lănh đạo của   người SVSQ ;

8.     Không có ǵ là không thể làm được đối với SVSQ;

9.     Tinh thi đua cá nhân và đơn vị là động lực của tiến bộ;

10.  Tin tưởng vào tiền đồ dân tộc là quyết tâm xây dựng sự nghiệp cán bộ .

 

Tự Thắng Để Chỉ Huy ‘’  là phương châm của  sinh viên sĩ quan trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt  và cũng là kim chỉ nam của nghệ thuật chỉ huy. Hay nói cách khác, muốn chỉ huy thuộc cấp phải tự thắng ḿnh trước.

Theo tài liệu [20] : Hệ thống tự chỉ huy được thành lập nhằm mục đích : Giúp cho SVSQ phát triển nghệ thuật chỉ huy và ư thức tinh thần trách nhiệm. Thấu hiểu được bổn phận nặng nề của một sĩ quan chỉ huy trong tương lai.

Thành phần trong hệ thống tự chỉ huy gồm:
- SVSQ Cán Bộ Liên Đoàn Trưởng;
- Ban Tham Mưu Liên Đoàn ;
- 2 SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng ;
- Ban Tham Mưu Tiểu Đoàn ;
- 8 SVSQ Cán Bộ Đại Đội Trưởng ;
- SVSQ Tham Mưu Đại Đội ;
- SVSQ Cán Bộ Trung Đội Trưởng ;
- SVSQ Cán Bộ Tiểu Đội Trưởng.

 

Theo tài liệu [6] :  Chương tŕnh huấn luyện Quân Sự 4 năm của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam nhằm mục đích đào luyện những sinh viên dân chính thành những sĩ quan.

1.     Có một kiến thức quân sự vững chắc để có tiềm năng phát triển sau này trong các Quân Binh Chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ;

2.     Có ư thức trách nhiệm phục vụ với một lập trường Quốc Gia vững chắc và một tinh thần ái quốc năng động ;

3.     Có khả năng lănh đạo chỉ huy và có thể tham gia đắc lực vào công tác xây dựng nông thôn.

 

Để đạt được mục đích trên, chương tŕnh huấn luyện Quân Sự 4 năm của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam được thiết lập trên căn bản đào luyện cho sinh viên sĩ quan có những kiến thức :

1. Chiến thuật: Có thể chỉ huy ngay một trung đội bộ binh kể cả các trung đội vũ khí nặng, chỉ huy đại đội sau một thời thực tập và có thể phối hợp hành quân liên binh;
2. Kỹ thuật chuyên môn : Biết xử dụng hữu hiệu các quân dụng đang xử dụng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và có khả năng hiểu biết những quân dụng do Quân Lực Đồng Minh cũng như đối phương xử dụng ;

3. Tâm lư ứng dụng và quân sử : Hiểu biết tâm lư thuộc cấp cũng như quần chúng để lănh đạo chỉ huy một cách hữu hiệu và quân sự để thấu đáo các chiến lược chiến thuật cổ kim ngơ hầu áp dụng trên trận địa ;

4. Thể chất: Có sức chịu đựng bền bĩ, có khả năng tự vệ ngoài chiến trường và có thể tham dự các môn thể thao.

 

Chương tŕnh Quân Sự:

1. Phần chiến thuật: Huấn luyện sinh viên sĩ quan về cá nhân chiến đấu, tiểu đội, trung đội, đại đội, du kích chiến và phản du kích chiến để thích ứng với chiến trường Việt Nam;
2. Phần chuyên môn gồm có các môn : Vũ khí tác xạ, địa h́nh, công binh chiến đấu, truyền tin ;

3. Phần tổng quát và Quân Binh Chủng gồm có môn : Tham mưu, phương pháp huấn luyện cơ bản thao diễn, quân kỷ, cứu thương, chiến tranh hóa học, không trợ, tổ chức và điều hành các Quân Binh Chũng ;

4. Phần thể chất gồm các môn: Thể dục quân sự, vơ thuật, điền kinh và thể thao ;
5. Phần linh tinh gồm các môn: Chiến tranh chính trị, tâm lư ứng dụng, quân sử, xây dựng nông thôn.

 

Chương Tŕnh Văn Hóa  :

Chương tŕnh giáo dục văn hóa 4 năm của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam nhằm mục đích đào tạo các Sĩ Quan có tŕnh độ Đại học Kỹ thuật.

Để đạt được mục đích trên, chương Tŕnh Văn Hóa 4 năm của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam được thiết lập trên căn bản đào luyện cho các sinh viên sĩ quan có những kiến thức vững chắc:

1. Về khoa học và kỷ thuật để có thể tổ chức điều hành các dự án, xử dụng được các chuyên viên, kỷ sư trong chương tŕnh khuếch trương kinh tế và kỹ nghệ của xứ sở, đồng thời có thể đáp ứng nhu cầu kỹ thuật của Quân Đội ;

2. Về khoa học nhân bản để thấu hiểu những khía cạnh phức tạp của công tác lănh đạo chỉ huy trong Quân Đội cũng như ngoài dân chính ;

3. Về sinh ngữ để có thể tham khảo các sách viết bằng Anh Ngữ.

Do đó chương tŕnh Văn Hóa gồm có:

1. Phần Toán, Khoa Học, Kỹ Thuật: Huấn luyện sinh viên sĩ quan phần Toán Ứng Dụng và Khoa Học Căn Bản của bậc đại học để thấu hiểu phần ứng dụng về kỹ thuật căn bản Cao Đẳng của ba ngành Điện, Cơ Khí và Công Chánh ;

2. Phần Khoa Học Nhân Văn: Gồm có các môn về Việt Văn, Triết Học Kinh Tế, Luật, Xă Hội Học, các Chính Thể Hành Chánh Ngoại Quốc, Sử Địa Việt Nam và Đông Nam Á Châu. Ngoài ra những môn học tuy thuộc về khoa học nhân văn, nhưng v́ quan niệm riêng của Trường Vơ Bị Quốc Gia đă được xếp vào chương tŕnh Quân Sự 4 năm của nhà trường. Những môn đó là: Tâm Lư Ứng Dụng, Lănh Đạo Chỉ Huy, Lịch Sử Nghệ Thuật Quân Sự, Chiến Tranh Chính Trị và Xây Dựng Nông Thôn.

3. Phần sinh ngữ: Một sinh ngữ duy nhất là Anh Ngữ được dạy liên tục trong 4 năm gồm cả phần lư thuyết và thực hành bằng các máy thính thị Anh Ngữ tối tân.

 

Ngoài ra, theo tài liệu [13] : Trong chương tŕnh  4 năm (kể từ năm 1969 và trở về sau ?) ,các sinh viên sĩ quan  được  huấn luyện vừa quân sự vừa văn hóa. Khóa huấn luyện được soạn thảo để chuẩn bị cho các sĩ quan tốt nghiệp từ trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, có đủ khả năng phục vụ đất nước trong giai đoạn cực kỳ nghiêm trọng và xây dựng quê hương trong hoàn cảnh khó khăn nhất mà không bất cứ một Quốc gia nào khác phải đương đầu.

Nhiệm vụ của trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam là dạy dỗ và huấn luyện sinh viên sĩ quan để mỗi sinh viên có một khả năng cần thiết cho sự tiến triển và tăng trưởng cuộc đời binh nghiệp của một Sĩ Quan thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, được chứng tỏ qua những tác phonh như sau :

Đức tính toàn năng và khả năng lănh đạo của cấp Chỉ Huy ;

Một căn bản quân sự thật vững vàng ;

Một văn hóa bao quát gồm sự thông hiểu kỹ thuật tương đương tŕnh độ kỹ sư tốt nghiệp tại các trường Đại học dân sự, được tăng cường với việc huấn luyện về các môn khoa học xă hội, nhân chủng học .

Bao  gồm trong nhiệm vụ này là các mục tiêu kể sau :

Tinh thần: Cung cấp một chương tŕnh huấn luyện ngang hàng tŕnh độ Đại học về nghệ thuật và khoa học; Phát triển khả năng phân tích để trí óc có thể nhận định được căn nguyên và đi đến những kết luận hợp lư thực tiễn ;

Đạo đức: Phát triển lư tưởng cao độ về nhiệm vụ và có tiềm năng tuyệt vời về đức tính, kỷ luật, ḷng nhiệt huyết cần thiết cho một binh nghiệp của sĩ quan hiện dịch  ;
Thể chất: Đào tạo và huấn luyện cho mỗi Sinh Viên một thân thể tráng kiện và một sức chịu đựng dẻo dai, bền bĩ của sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Để có thể hoàn thành sứ mạng huấn luyện nói trên, trường Vơ Bị Quốc Gia đă tổ chức thành một Bộ Chỉ Huy và 3 thành phần chính yếu sau đây :

1.     Quân Sự Vụ : Dạy sinh viên tất cả các môn học về quân sự và thể dục và chịu trách nhiệm về chỉ huy, kỷ luật và tinh thần của Trung đoàn Sinh viên Sĩ quan. Hầu hết các Sĩ quan được chỉ định phục vụ tại Khối Quân Sự Vụ là sĩ quan tác chiến và đă xuất thân từ trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam ;

2.     Văn Hóa Vụ : Trách nhiệm phụ trách dạy các lớp học và các môn học. Mặc dù trường Vơ Bị đă thuê nhiều giáo sư dân sự, tuy nhiên phần đông các giáo sư huấn luyện viên là Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cọng ḥa, tốt nghiệp từ các trường Đại học trong nước hoặc ngoại quốc, với cấp bằng ít nhất là Cử nhân. Trường Vơ Bị Quốc Gia cũng giúp phương tiện cho những giáo sư nào muốn theo học để lấy bằng Cao học và Tiến sĩ tại các Đại học trong quốc nội hay ở ngoại quốc ;

3.     Bộ Tham Mưu và các đơn vị Yểm Trợ : Phối hợp tất cả vấn đề hành chánh, tiếp liệu và các dịch vụ khác, phần nhiều được cung cấp bởi Tiểu đoàn Yểm trợ.

 

Theo tài liệu [1,13]  : Chương tŕnh huấn luyện (sau năm 1966 hay 1969 ?)  tại trường VBQGVN về phương diện tổng quát cũng giống như chương tŕnh tại trường Vơ Bị West Point -Hoa Kỳ. Tuy nhiên trường VBQGVN có trách nhiệm huấn luyện và đào tạo sĩ quan cho cả 3 Quân Binh chủng, hầu như bao gồm chương tŕnh của West Point, Annapolis và Air Force Academy tại Hoa kỳ.

Khóa 25 tốt nghiệp vào tháng 12 năm 1972 là khóa đầu tiên thụ huấn chương tŕnh "ba ngành"( tri-service) này được áp dụng từ năm 1970.

 Lư thuyết căn bản của chương tŕnh huấn luyện "ba ngành" là trong hai năm đầu thụ huấn, tất cả sinh viên sĩ quan đều theo chương tŕnh học về văn hóa và quân sự như nhau.

Vào cuối năm thứ hai ,  đầu năm thứ ba ,sinh viên được chia ra cho ba quân chủng riêng biệt :  Hải Quân, Không Quân và  Bộ Binh (Lục Quân) , với 1/8 tổng số cho Hải Quân, 1/8 cho Không Quân và 3/4 quân số cho Bộ Binh.

Trong hai năm sau cùng, các sinh viên sĩ quan Hải Quân và Không Quân sẽ được huấn luyện với một chương tŕnh văn hóa cải biến và sẽ được huấn luyện quân sự với các quân chủng liên hệ .

Theo tài liệu [1] : Từ 1971, các sinh viên năm thứ 3 (bắt đầu từ Khóa 25 SVSQ) chọn Không Quân và Hải Quân theo học chuyên môn tại các trường của Không  Quân và Hải Quân vào mùa Quân Sự. Mùa Văn Hoá, họ trở về trường học chung với đồng khoá. Kể từ thời gian này, Trung Đoàn SVSQ có thêm 2 đại Đội SVSQ Hải Quân và Không Quân (tổng cộng 10 đại đôi).

Cũng như tại West Point, niên học được chia làm hai mùa: Mùa nắng (Đông) huấn luyện  quân sự  và mùa  mưa văn hóa .

 Mùa huấn luyện quân sự mà trong thời gian này sinh viên được nghỉ phép hai tuần lễ, được kéo dài từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 3 (3 tháng). Thời tiết tốt tại Đà Lạt vào những tháng 12, tháng giêng, tháng 2 và tháng 3 rất thuận tiện cho việc huấn luyện quân sự, đó là lư do của sự khác biệt về thời biểu và chu kỳ huấn luyện giữa trường VBQGVN và các quân trường tại Hoa Kỳ .

Các sinh viên sĩ quan được huấn luyện chiến thuật tác chiến từ cấp Trung Đội đến Tiểu Đoàn và các cuộc hành quân liên binh.

Theo tài liệu [1] :  Để trao dồi nghệ thuật chỉ huy và lănh đạo, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam có truyền thống tổ chức Hệ Thống Tự Chỉ Huy và 8 tuần huấn nhục cho các tân khóa sinh. Hệ Thống Tự Chỉ Huy ngoài mục đích giúp các sinh viên sĩ quan thực tập về chỉ huy, c̣n có tác dụng phát huy t́nh huynh đệ giữa các khóa. Tám (8) tuần huấn nhục giúp khóa sinh dứt bỏ nếp sống dân chính, để khép ḿnh vào khuôn khổ kỷ luật của nhà trường, cũng như của quân đội sau này.

Theo tài liệu [23] : Trong thời gian thụ huấn, các SVSQ bị các lầm lỗi sẽ trải qua những đêm tŕnh diện dạ chiến chiếu theo giấy phạt 1, 2 hoặc 3 đêm tŕnh diện sĩ quan đặc trách việc thi hành lệnh phạt trọn quyền đặt để các h́nh phạt như : Thay các loại quân phục, chạy quanh Vũ Đ́nh Trường bao nhiêu ṿng, ba lô với đủ quân dụng ấn định, v.v... Tất cả diễn tiến đều quy định thời gian và khoảng cách từ pḥng ngủ SVSQ đến pḥng thi hành h́nh phạt (Sau lần phạt, Tân khóa sinh thường ngất xỉu).

Có phạt lại có thưởng: Trường hợp các SVSQ có kết quả tốt trong học tập được sĩ quan cán bộ, Giáo Sư hoặc Huấn Luyện Viên tưởng thưởng. Những lần tŕnh diện dạ chiến, người thọ phạt mang giấy thưởng tŕnh ra sẽ được ghi trừ những lần phạt tương ứng và khỏi thọ phạt.

Theo tài liệu [13] :  Tất cả sinh viên Bộ Binh đều phải theo học khóa Nhảy Dù và Biệt Động Quân. Lư thuyết MacArthur về sự tranh tài và nhấn mạnh vào toàn năng về thể lực để dạy ḷng hăng say, quyết tâm chiến thắng, đức tính cần thiết giúp cho chiến sĩ trên trận mạc đă được phát huy rất nhiều trong các sinh viên  của trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam .

 Sinh viên Vơ Bị c̣n được huấn luyện về căn bản quân sự và chuyên môn cùng một lúc với các khóa tâm lư chiến, quân sử và lănh đạo chỉ huy để dạy sinh viên có một khả năng nghề nghiệp và hiểu biết vững chăi, sẵn sàng nhận những chức vụ chỉ huy và tham mưu cao hơn .

Theo tài liệu [13] :  Mỗi sinh viên theo học và tham gia vào một chương tŕnh huấn luyện thể chất, thể dục kể cả việc theo học Taekwondo (Thái Cực Đạo vơ Đại Hàn),  môn vơ Judo- Karate  ( Nhu Đạo , Không Thủ Đạo vơ Nhựt)  .

Hơn nửa ,theo tài liệu [20] : Tại trường, Khoa Thể Chất biến thành Pḥng Huấn Luyện Thể Chất, đẩy sinh viên sĩ quan khóa 26 đi nhanh hơn trên đường luyện tập thể thao, dă ngoại và vơ thuật (80%  sinh viên Khóa 26 mang Đai Đen Nhu Đạo hoặc Thái Cực Đạo).

Theo tài liệu [13] :  Huấn luyện quân sự chiếm khoảng 50% của thời gian thụ huấn 4 năm.

Hơn nửa ,theo tài liệu [20] :  Chương tŕnh huấn luyện  cho Khóa 26 (vào Trường năm 1969) gồm có : Chương tŕnh quân sự thể chất  3700 giờ  và  9 Khoa (Toán, Nhân Văn, Khoa Học, Sinh Ngữ, Kỹ Thuật Điện, Cơ Khí, Công Chánh, Khoa Học Xă Hội, và Kỹ Thuật Quân Sự) với 48 môn học cả thảy 3200 giờ . Như vậy hơn 50% . V́ vậy Văn Hóa Vụ  kèn cựa về ảnh hưởng 50% của chương tŕnh huấn luyện, siết  sinh viên sĩ quan từng phần ngàn của hệ thống điểm 4.0.

(Phụ chú : Như ghi ở trên, mùa huấn luyện quân sự chỉ kéo dài 3 tháng trong một năm 12 tháng. Vậy th́ làm sao đạt được 50% ?) .

Hai năm đầu sinh viên mang cấp Trung Sĩ , hai năm sau là Chuẩn Uư. Sinh viên học xong 4 năm th́ tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Uư .

Theo tài liệu [9] :  Chương tŕnh văn hóa 4 năm tại Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam  bao gồm các môn về cả 3 lănh vực: Khoa Học ThuầnTúy, Khoa Học Ứng Dụng  và Nhân Văn Xă Hội. Văn Hóa Vụ của Trường đảm nhiệm việc  giàng dạy chương tŕnh văn hóa .

Theo tài liệu [13] : Trong khoa học thuần túy : Toán Học, Vật Lư và Hóa Học ,sinh viên học, suy nghĩ và t́m hiểu lư do, phân biệt những yếu tố căn bản để suy luận và t́m ra kết luận cho vấn đề. Những khóa học này cung cấp căn bản hiểu biết vững vàng cho sinh viên để có thể tiến tới trong khoa học áp dụng và chuẩn bị cho họ xử dụng khả năng trong các công tác kiến thiết quốc gia. Những lớp học về kỹ sư cầu cống, xa lộ và phi trường, bản đồ, khảo sát được hoạch định phát huy khả năng các chuyên gia để có thể h́nh thành bản đồ cho quốc gia, khảo sát và xây cất xa lộ, đường xe lửa, phát triển và bảo tŕ thương cảng và kiến thiết và sửa chữa cầu cống. Trong môn học về kỹ sư điện khí, ngoài việc học về nguyên tắc căn bản của máy thu thanh, xe cộ và vũ khí, sinh viên c̣n được mở mang sự hiểu biết để có thể giúp họ phụ trách về các công dụng điện khí trong nước.

Sinh viên sĩ quan  phải theo một thời lượng học hành vất vả hơn các sinh viên dân sự, không những để trau dồi kiến thức mà c̣n được thực tập để suy luận, phân tích, quyết định nhằm phát triển khả năng lănh đạo và đáp ứng với mọi t́nh huống trong công cuộc bảo vệ và kiến thiết quốc gia. Và để giúp họ thấm nhuần văn hóa dân tộc cũng như theo kịp với đà tiến hóa của thế giới, một chương tŕnh các môn Nhân Văn Xă Hội và Anh Ngữ thực dụng được áp dụng suốt cả 4 năm học.

Để cân bằng thời biểu huấn luyện văn hóa, vào khoảng 40% chương tŕnh huấn luyện chú trọng về Xă Hội Học và Nhân Chủng Học. Một vài khóa học này có giá trị trực tiếp và thực tiễn trong khi vài lớp học khác có mục đích đi sâu vào sự hiểu biết về thế giới và vai tṛ của sinh viên trong việc phát triển văn hóa dân tộc .

Theo tài liệu [4] : Chỉ Huy Trưởng Đại Tá Trần Ngọc Huyến dựa vào nhiệm vụ do đích thân Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ủy thác, đă can thiệp để có một số sĩ quan có bằng cấp đại học "cream of cream" từ các Quân chủng Hải, Lục, Không quân đă được điều động về trường Vơ Bị.

Các sĩ quan Hải quân có : Trung Úy Lê Phụng, Kỹ sư Trung Úy Nguyễn Tiến Ích xuất thân từ Trường Hải quân Brest-Pháp .Sau này c̣n có một cựu sĩ quan Brest là Trung Tá Nguyễn Vân, trước làm giáo Sư. Sau khi lên cấp Hải Quan Đại Tá, ông Nguyễn Vân được chỉ định làm Văn Hóa Vu Trưởng sau cùng của trường.

Cũng có các sĩ quan Không quân làm giáo sư như Đại Úy  NĐ An, Đại Úy  DT Hiểu đều có bằng Cao Học (Master) đại học Pháp, Thiếu Úy Vơ Đệ chuyên lo Pḥng Thí Nghiêm Hóa Học cũng tốt nghiệp ở đại học Pháp. Đại Úy Nguyễn Ngộ đang được biệt phái cho Bộ Giáo Dục để giảng dạy tại đai học Khoa hoc Sàig̣n cũng được lực chọn về Trường Vơ Bị.

Vài hàng về một vài vi giáo sư Toán (đăc biệt)  giảng dạy sinh viên Khóa 16 :

Với dáng cao gầy và gương mặt khắc khổ, Hải quân Trung úy Lê Phụng vốn tốt nghiệp từ trường sĩ quan Hải Quân Pháp đă xuất hiện ở sân trường với bộ quân phục đại lễ màu trắng thẳng nếp và bộ kiếm lủng lẳng bên hông. Ông độc thân nhưng khó tính, không bao giờ cười và đă gọi những người học kém toán,  là "đầu óc gỗ". Ở lớp học ông thường nghiêm nghị và có lúc trầm ngâm với ống "pipe" trên tay. Trong cuộc khảo hạch văn hóa nào, ông Lê Phụng cũng sẵn sàng phang hai con số 00 (zéro)  cho những bài đáp toán "không ra ǵ". Ông Lê Phụng đă đi tu nghiệp bên Hoa Kỳ năm 72 và không trở lại Việt Nam nữa.

Đối nghịch, đại úy Nguyễn Ngộ, cũng độc thân, vốn tốt nghiệp trường đại học Sorbone ở Paris, khi được đề cử sang Pháp học Công Binh, về cả khoa toán lẫn văn chương. Ông vào lớp như một triết gia với quân phục chểnh mảng và giảng toán thao thao bất tuyệt. Nhưng ông giảng bài dễ hiểu hơn. Đối với ai lên bảng giải toán tích phân cứ loay hoay với nhiều hàng số, ông chỉ nói nhẹ rằng "anh như con nhện tự giăng tơ ra quấn lấy ḿnh".

 Bước sang năm thứ hai, Hải quân đại úy Nguyễn Tiến Ích cùng đến Văn hóa vụ với một số giáo sư tốt nghiệp ở Mỹ về làm việc cho Nguyên Tử Lực Cuộc như giáo sư Nguyễn Tư Bân. Hải quân đại úy Nguyễn Tiến Ích về trường đă tiếp tay về môn toán với món ăn khó nuốt được gọi là "sinsin colog". Sau này, ông đi tu nghiệp và lấy bằng tiến sĩ ở học viện MIT, Hoa Kỳ.

Nhiều giáo sư dân sự như Linh Mục Tiến sĩ Nguyễn Văn Thính, Ḍng Chúa Cứu Thế, một số Sư Huynh ( Frères) ḍng Tabert Sàig̣n v.v.. cũng được mời về tăng cường cho các giáo sư thuộc quân đội.

Theo tài liệu [4] : Sau này với luật đông viên 1964, Bộ Quốc Pḥng tha hồ điều đông các trí thức khoa bảng từ các khóa 14 Thủ Đức trở về sau.

Các giáo sư Toán, Vật Lư tên tuổi sáng chói ở Sàig̣n lúc đó như NX Nghiên, PV Phú, ĐQ Hưng, BD Hiển, PK Viêm v.v... đều đă từng là giáo sư Văn Hóa Vụ. Một số giáo sư động viên sau  không c̣n được giải ngũ theo quy định, đă từ từ thay cấp từ Chuẩn Úy lên Thiếu Tá chỉ chuyên lo việc giảng huấn đến tận khóa cuối cùng như giáo sư PK Viêm chẳng hạn.

(Phụ chú : Giáo  sư Phạm Kế Viêm tốt nghiệp trường Đại học Khoa học Sàig̣n,nguyên Giáo sư toán Trung học Gia Long Sàig̣n  và nguyên là Trưởng khoa toán Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam. Giáo  sư Phạm Kế Viêm và giáo  sư Vơ Thế Hào là đồng tác giả sách Toán Đại Số - Đệ Nhị Khoa Học Toán xuất bản năm 1960 ).

Về tổ chức, Văn Hóa Vụ có một Pḥng Điều Hành phụ trách hành chánh, và 9 khoa, gồm :

1.     Khoa Anh Văn ;

2.     Khoa Nhân Văn ;

3.     Khoa Khoa Học Xă Hội ;

4.     Khoa Toán ;

5.     Khoa Khoa Học;

6.     Khoa Cơ Khí;

7.     Khoa Công Chánh ;

8.     Khoa Kỹ Thuật Điện ;

9.     Khoa Kỹ Thuật Quân Sự.

Các môn học :

Anh Văn (5 môn) :  Anh ngữ 1, Anh ngữ 2 , Anh ngữ 3. Anh ngữ 4 , Anh ngữ quân sự;

Nhân Văn (5 môn) : Văn chương VN 1, Văn chương VN 2, Sử Âu Mỹ, Sử Á Việt, Quân sử ;

Khoa Học Xă Hội (8 môn) : Tư tưởng chính trị ,Tâm lư, Lănh đạo,Chính thể hiện đại,Luật Hành chánh công quyền,Quản trị, Kinh tế  ;

Toán (6 môn) :  Giải tích 1A ,Giải tích 1B , Giải tích 2A,Giải tích 2B, Giải tích 3 , Thống Kê;
Khoa Học (5 môn) :  Vật lư 1 ,Vật lư 2 ,Tân vật lư ,Hóa học vô cơ , Hóa học hữu cơ ;

Cơ Khí (6 môn) : Cố thể 1 , Cố thể 2, Cố thể 3, Lưu chất 1, Lưu chất 2, Máy đây ;

Công Chánh (6 môn) : Trắc lượng 1 ,Trắc lượng 2, Kiến tạo 1, Kiến tạo 2, Thanh Hóa, Xa lộ phi trường ;

Kỹ Thuật Điện (5 môn) :  Mạch điện , Điện tử, Hệ thống phân tích, Điện khí 1, Điện khí 2;

Kỹ Thuật Quân Sự (5 môn) : Quân cụ , Canh nông , Khí tượng, Hàng hải , Kiến trúc chiến hạm.

Tổng cộng gồm 48 môn với khoảng 2970 giờ, không kể giờ thực tập phụ trội.

Mùa Văn hóa gồm hai lục cá nguyệt, với mỗi lục cá nguyệt có 3 giai đoạn, mỗi ǵai đoạn 6 tuần lễ. Cuối mỗi tuần, giai đoạn, lục cá nguyệt và mùa Văn hóa đều có các kỳ sát hạch ôn. Mỗi lớp học Văn hóa chỉ gồm 16 sinh viên sĩ quan (SVSQ) , và 4 toán SVSQ được sắp xếp cùng học một đề tài trong cùng một giờ do 4 giảng viên đảm trách.

 

Lớp học văn hóa – H́nh trích từ tài liệu [22] 

 

 

 

Lớp học văn hóa -H́nh trích từ tài liệu  [24] 

Lớp học kỹ thuật Điện trong pḥng Thí Nghiệm -H́nh trích từ tài liệu [10] 

Lớp học Thủy Học (Lưu Chất?) trong pḥng Thí Nghiệm – H́nh trích từ tài liệu [10] 

Hầu hết các giảng viên là sĩ quan quân đội, cấp bậc từ Chuẩn Uư đến Trung Tá, tốt nghiệp từ các trường đại học trong nước hoăc ngoai quốc, cộng với một số nhỏ giáo sư dân chính có bằng Cử Nhân, Cao Học hay Kỷ Sư. Trong số các giảng viên, có khoảng 30% tốt nghiệp đại học ở Hoa Kỳ hay các nước khác với bằng  Cao Học MA hay MS.

Sau này, số giáo sư Văn Hóa Vụ rất hùng hậu, v́ theo tiêu chuẩn West Point mỗi lớp học văn hóa chỉ có hơn 10 SVSQ, nên để giảng huấn cho 1000 SVSQ 4 khóa, đă có gần 200 giáo sư, trong đó có nhiều giáo sư được gửi qua Mỹ học Hậu Đại Học, rồi trở về giảng huấn cho thêm phẩm lượng. Thành thực nói, giới trí thức khoa bảng tập trung ở TVBQGVN c̣n hơn nhiều trường Đại học dân sự.

Hơn nửa,theo tài liệu [18] : Giáo sư đoàn  của khối Văn Hóa Vụ lúc đầu khoảng trên dưới ba chục người, không có pḥng làm việc riêng, ngoài giờ dây chỉ tụ họp nhau tại một pḥng dưới lầu nhà A. Tới năm 1972 , giáo sư đoàn gồm 160 giảng viên,các Trưởng khoa đă có văn pḥng riêng và mỗi giáo sư cũng có một bàn làm việc tại Nhà Văn Hoá Mới, Nhà A,nhà H.

Sách giáo khoa giảng dậy tại Trường, lúc đầu dùng tài liệu dịch ra từ chương tŕnh Pháp của các đại học dân sự ở Sàig̣n, sau lần hồi các sách khoa học được giảng huấn ở West Point được khối giáo sư Văn Hóa Vụ dịch ra Việt ngữ để dùng cho TVBQGVN. Cũng v́ thế sau Quốc biến, nước mất nhà tan, phải đem thân lưu lạc quê người, nhiều cựu SVSQ các khóa trẻ khi đi học lại tại các đại học Khoa học Mỹ đă được cho free một số Tín Chỉ, ngay cả được chấp nhận vào các đại học danh tiếng Mỹ như M.I.T, UCLA, UTA, George Washington v.v... Đă có rất nhiều cựu SVSQ/TVBQGVN lấy được bằng Master hoặc Ph.D của Mỹ.

Cuối mỗi năm học, Hội Đồng Văn Hóa, gồm Văn Hóa Vụ Trưởng, các Trưởng Khoa, và Quân Sự Vụ Trưởng, nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN, để duyệt xét kết quả học tập của các SVSQ và quyết định cho lên lớp hay ở lại lớp của từng người.

 

Ở đây xin ghi thêm là việc theo học các chương tŕnh văn hóa tại Trường  Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt rất là khắc khe. Thật vậy theo tài liệu [16] & [24] :  52 sinh viên trên tổng số 326 của Khóa 16 (vào Trường năm 1959)   bị loại ra khỏi Trường v́ không đủ điểm lên lớp trong chương tŕnh văn hóa. Trong số này, có sinh viên sĩ quan Trần Trung L. người đă tốt nghiệp Tú Tài Phần 2 Kỹ Thuật và là cháu ruột của đương kim Tổng trưởng Quốc Pḥng Trần Trung Dung và  sinh viên sĩ quan Thái Quang C. em ruột Trung Tướng Thái Quang Hoàng  (theo tài liệu [23]). 

Cuối năm Thứ Nhất, sau các cuộc khảo hạch, th́nh ĺnh ngang xương có quyết định dáng xuống:  Ai có điểm Văn Hóa dưới 8 điểm bị cho ra trường ngay, 9 điểm được "khoan hồng" cho theo học lại Khóa 17, không cho lấy điểm Quân sự bù vào. Chuyện rất vô lư, nhưng 52 SVSQ/K16 đă phải ra trường sớm, mà oái oăm hơn nữa là với cấp Trung Sĩ (sau này đều tiếp tục thụ huấn ở trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế ở Nha Trang để trở thành các Chuẩn Úy hiện dịch (ngoại trừ 4 sinh viên sĩ quan được gia đ́nh bồi hoàn chi phí huấn luyện cho Bộ Quốc Pḥng để được giải ngũ, trở về đời sống dân sự, do qui chế hiện dịch và chưa có lệnh Tổng động viên).

Đă có nhiều bạn trong số 52 CSVSQ/K16 này sau là sĩ quan rất có tiếng tăm, thành tích ở BĐQ, TQLC , có nhiều vị lên đến cấp Trung Tá. Trong số 52 SVSQ này, có một số có điểm Quân Sự rất cao, lên tới 15, 16 điểm. Nếu đem cộng với điểm Văn Hóa th́ đă có điểm trung b́nh c̣n cao hơn 12, nhưng không được cứu xét.

Khi đề nghị tŕnh về Bộ Tổng Tham Mưu phê chuẩn, đă bị Bộ Tổng Tham Mưu bác bỏ với lư do là tất cả các đại học, điểm loại có môn là 6, c̣n luôn luôn được lấy điểm các môn khác bù vào, nếu dưới 10 điểm vẫn được đúp 1 năm. Nhưng Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Huyến là người có uy tín với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và các vị lănh đạo cao cấp, nên Bộ Tổng Tham Mưu nhượng bộ bằng ḷng chấp thuận giải pháp cho ra trường sớm với cấp bậc Chuẩn Úy v́ đây không phải lư do kỷ luật, mà v́ điểm văn hóa yếu. Vậy nếu ở Thủ Đức, 1 SVSQ trừ bị vào trường văn hóa có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, thụ huấn 6 tháng (lúc đó) và tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, th́ 1 SVSQ hiện dịch vào trường Vơ Bị Đà Lạt có Tú Tài lại đă thụ huấn 12 tháng, th́ không thể có cấp bậc thấp hơn. Nhưng Trung Tá Huyến nhất định không chịu, đích thân lên tŕnh diện Tổng Thống tŕnh bày, và cương quyết giữ vững quyết định cho ra trường với cấp bậc Trung sĩ để đạt cho được tiêu chuẩn chương tŕnh mới của TVBQGVN.

Có lẽ chính Tổng Thống cũng khó nghĩ. Nhưng sau cùng Tổng Thống Diệm phải chiều theo các lư lẽ biện giải của Trung Tá Huyến: Phải quyết định như vậy để làm gương cho các khóa sau, phải hết sức lưu tâm học Văn hóa hầu có kiến thức vững chắc thực sự cho thời b́nh, như những tiêu chuẩn do chính Tổng Thống đề ra. V́ việc này, Trung Tá Huyến đă tự tạo cho cá nhân của ông nhiều hiềm khích .

 Sau sự kiện này, Trung Tá Huyến  đă gặp đ̣n thù oán cá nhân, nhưng đă sẵn sàng chấp nhận. Khi tướng Nguyễn Khánh chỉnh lư năm 1965, ông "được" Bộ Tổng Tham Mưu cử làm "Thanh Tra Người Khinh Binh Tiền Phương", có nhiệm vụ đeo ba lô, súng ngắn đi theo người khinh binh tiền phương thứ nhất, để biết khả năng tác chiến của khinh binh này. Trong các quân đội trên khắp thế giới, không có 1 nhiệm vụ nào như thế cho 1 Đại Tá cả. Ông được đưa về một Đại Đội Bộ Binh do một  bạn trong số 52 Khóa 16 này, Trung Úy ĐĐY, chỉ huy. Nhưng chính Trung Úy ĐĐY đă bảo vệ, cứu ông. Sau đó ông được giải ngũ và làm giám đốc cho hăng săng Esso Sài G̣n cho đến khi mất nước.

Theo tài liệu [15] : Cuối năm thứ 2,  thêm hai sinh  viên sĩ quan Khóa 16 bị loại v́ thiếu điểm trung b́nh văn hóa, được Chi huy trưởng Trường Vơ Bị cho chọn  quân binh chủng để phục vụ và hai người này đă thuyên chuyển sang Hải quân với cấp bậc Chuẩn úy hiện dịch.Và vào kỳ thi văn hóa cuối năm thứ 3, đă loại trừ thêm 1 sinh viên sĩ quan Khóa 16 và người này đă t́nh nguyện phục vụ tại binh chủng Nhảy Dù với cấp bậc Chuẩn úy hiện dịch.

Theo tài liệu [16] : Sự việc đuổi  một số sinh viên ra khỏi Trường  đă lưu lại một vết thương tinh thần cho cả khóa. Đồng thời, từ đấy ai cũng bừng tỉnh ngộ khi thấy nhà trường đă đặt nặng chương tŕnh văn hóa. Đa số vào Trường đă mang ư nghĩ "đă bỏ học ở ngoài để đi lính rồi." Từ đấy, những sinh viên sĩ quan vốn đă có chứng chỉ MG (Toán Đại Cương) , MPC (Toán Lư Hóa) năm thứ nhứt  cấp phát bởi Đại Học Khoa Học   đă vượt nổi lên như Bùi Quyền, Nguyễn Xuân Phúc .

Sinh viên  Bùi Quyền  tốt nghiệp Thủ khoa khóa 16 và nhận phục vụ ở binh chủng Nhảy Dù.

(Xin ghi thêm : Sau này, sinh viên Thủ khoa Bùi Quyền lên tới  chức Trung Tá, làm Lữ ĐoànTrưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù . Trung Tá  Bùi Quyền qua đời ngày  30 tháng 5 năm 2020 tại Orange County, California-Hoa Kỳ).

 

Khóa 16 sau cú đại họa chung đó đă nẩy sanh t́nh lân cận trong khóa đặc biệt, lại như cấp thời mơ hồ đến những hy sinh bắt buộc phải chịu đựng và phải t́nh nguyện nhận lănh. Có lẽ v́  nguyên tâm lư sâu xa đó, sau này ra Trường đă có nhiều đơn vị trưởng đă đi vào Quân Sử, tử tiết cùng đơn vị như các Trung Đoàn Trưởng Đặng Phương Thành, Nguyễn Hữu Thông, Đoàn Cư, hoặc Lữ Đoàn Tưởng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Nguyễn Xuân Phúc (Robert Lửa của K18), cùng các Tiểu Đoàn Trưởng TQLC Nguyễn Đăng Tống, Đỗ Hữu Tùng.

Chắc cũng nên nhắc đến những đơn vị trưởng nhiều lần ngă khụy rồi lại đứng lên, trong ḿnh vẫn c̣n mang nhiều mảnh sắt, như ở Nhẩy Dù với các Lữ Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn Phó LMN, TĐK, BQ, và "người về từ đôi Gió" PKB, hoặc ở TQLC với các Tiểu Đoàn Trưởng NKĐ, TVH, TNT và Trung Tá TQLC Nguyễn Văn Cảnh ( một trong 52 người ra Trường sớm) đă là một trong những người chỉ huy Tiểu đoàn "cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị" năm xưa. Biệt Động Quân (BĐQ) với các Liên Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng NVH, Hồ Văn Ḥa, ĐTQ. Cũng trong tinh thần chia sẻ gian nguy, đă có Phi Đoàn Trưởng Trực thăng Vĩnh Quốc, có nhiêm vụ tải thương, tiếp tế cho An Lộc đă không ngần ngại tắt motor, cho rơi thẳng, xuống gần đất mới mở lại để hy vọng tránh pḥng không của Cộng quân, hoặc như Hải quân Trung Tá Nguyễn Như Phú, Hạm trưởng Dương vận hạm 504 trong nhiệm vụ chở quân dân di tản từ Miền Trung về Nam, đă chủ trương chỉ một chế độ khẩu phần, nước uống duy nhất cho tất cả sĩ quan, thủy thủy đ̣an cùng hơn 10,000 quân dân di tản trong suốt trong tháng 3, 1975 kinh hoàng.

Theo tài liệu [25] :  Khóa 16  đă đào tạo được một số  sĩ quan trung cấp oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa : 6 đại tá trong đó 1 Đại Tá tử trận, 1 Đại Tá bị bức tử trong trại tù lao động khổ sai cs tại Hoàng Liên Sơn năm 1976 và  11 Trung Tá (1 Trung Tá tử trận được truy thăng Đại Tá).  

Cũng theo tài liệu [16] & [25]   Mấy năm đầu sau khi măn khóa năm 1962, các tân sĩ quan Khóa 16 đă  chiến đấu can trường trên các chiến trường và  hứng chịu nhiều thương vong. Một số  các sĩ quan này  đă anh dũng hy sinh v́ Tổ Quốc   :

·        Thiếu Úy Nhữ Văn Hải ,SĐ 21/BB , sĩ quan đầu tiên của Khóa 16. Đêm 21 tháng 3 năm 1963, Th/Úy Hải ,đại đội phó một Đại Đội thuộc Trung Đoàn 48/SD921/BB trú đóng tại đồn Biện Nhị ,quận Thới B́nh,An Xuyên, bị tiểu đoàn U Minh việt cộng bao vây tấn công và tràn ngập, Th/Úy Hải bị trọng thương, bị bắt, nhưng không chịu đầu hàng, bị tra tấn cho đền chết, lúc đó mới được 23 tuổi. Do gương can đảm cao độ, Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Trần Ngọc Huyến, đă đặt tên cho Câu Lạc Bộ trước cổng Trường là CLB Nhữ Văn Hải ;

·        Thiếu Úy Nguyễn Thế Đức tử thương ngày 1 tháng 4 năm 1963;

·        Thiếu Úy  Lư Văn Quảng , TĐ98/ND,tử trận tháng 4 năm 1963 lúc 26 tuổi;

·        Thiếu Úy  Nguyễn Tấn Mỹ, Tr/Đoàn 44/SĐ23/BB tử trận giữa năm 1963;

·        Thiếu Úy Hồ Xuân Quang, Tr/Đoàn 45/SĐ23/BB tử thương giữa năm 1963;

·        Thiếu Úy Trần Thiện Gái, SĐ1/BB,tử trận tháng 5 năm 1963, lúc vừa 24 tuổi tại Căn Cứ A Lưới , phía Tây thành phố Huế. Vài năm sau, một con đường trong Thành Nội được đặt tên : Đường Trần Thiện Gái;

·        Thiếu Úy Trần Trọng Minh tử trận ngày 27 tháng 10 năm 1963;

·        Thiếu Úy Vũ Chấn Hùng,BB, tử trận ngày 25 tháng 11 năm 1963;

·        Thiếu Úy Trịnh An Thạch , TĐ/TQLC, tử trận ngày 6 tháng 12 năm 1963, mới 24 tuổi;

·        Thiếu Úy Trần Ngọc Sơn, tử trận ngày 8 tháng 4 năm 1964;

·        Thiếu Úy Nguyễn Phương Sanh, tử trận tháng 7 năm 1964 ;

·        Thiếu Úy Lê Đức Riệp, tử trận ngày 27 tháng 7 năm 1964;

·        Thiếu Úy Bùi Thanh Tâm, SĐ22/BB, tử trận tại đồi Dương Liễu,Tam Quan năm 1965;

·        Thiếu Úy  Nguyễn Bảo Tùng và Thiếu Úy Phan Văn Tân, Biệt Đoàn 84 (Tiền thân Phi Đoàn 219). Ngày 18 tháng 10 năm 965, từ Khâm Đức bay thả toán viễn thám Lôi Hổ , trực thăng Tr/Úy Tùng v́ mây mù bay lạc và mất tích, tử trận khi vừa 25 tuổi;

·        Trung  Úy Mai Nguyên Hưng, phi công khu trục cơ AD-6.Phi cơ  bị lâm nạn lúc đáp khẩn cấp xuống phi trường Phước Long sau một phi vụ Bắc Phạt năm 1965 , Trung Úy Mai Nguyên Hưng tử thương ,được Truy Thăng Đại Úy, mất ở tuổi 24.

 

Xin ghi thêm, theo tài liệu [23] : Khóa 20 cũng có một tân sĩ quan anh dũng hy sinh v́ Tổ Quốc sau khi đáo nhậm đơn vị khoảng 3 tuần, hưởng dương 24 tuổi . Đó là Thiếu Úy Đỗ Văn Bá ,sau đó được truy thăng cố Trung Úy Hiện Dịch Thực Thụ .

 

Sau đây là hồi ức của  một cựu sinh viên sĩ quan của Khóa 26 đăng trong tài liệu [26] & [27] :

Qua đó người ta thấy tiến tŕnh huấn luyện quân sự và học văn hóa của từng năm học. Hồi ức nảy cũng ghi vài sự việc đặc biệt xảy ra trong Khóa .

Khóa 26  trường Vơ Bị Quốc Gia với danh xưng là Khóa Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh được khai giảng vào ngày  24 tháng 12 năm 1969. Thời gian huấn luyện của Khóa này được ấn định là 4 năm nhưng thực tế kéo dài tới 4 năm 5 tháng .

Chương tŕnh huấn luyện trong năm thứ nhất (1970) :

Bao gồm : Giai đoạn từ 24 tháng 12 năm 1969 đến 18 tháng 12 năm 1970. Các sinh viên trúng tuyển đến tŕnh diện quân trường Vơ Bị là 227 ứng viên. Nhưng tổng số ứng viên hội đủ điều kiện về thể chất được gia nhập tân khóa sinh của Khóa 26 là 196 người.

Ngày đầu tiên nhập khóa, các tân SVSQ Khóa 26 được đàn anh Khóa 23, thuộc Tiểu Đoàn 1 Khóa Sinh đón tiếp tại phi trường Cam Ly. Ngày 24 tháng 12 năm 1969 vào dịp lễ Giáng Sinh, 196 tân khóa sinh Khóa 26 được các SVSQ cán bộ của Khóa 23 thuộc Tiểu Đoàn 1 Khóa Sinh đón tiếp tại Cổng Nam Quan của quân trường Vơ Bị, với nghi lễ truyền thống.

Đầu tiên, các môn sinh của Khóa 26 phải trải qua tám tuần lễ huấn nhục. Rồi cũng kể từ đó là chuỗi thời gian dài nối tiếp trong các chương tŕnh thụ huấn tại đồi 1515.

Ngày 28 tháng 02 năm 1970, Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh Khóa 26 kết thúc Mùa Tân Khóa Sinh gian khổ bằng đợt leo núi. Khóa Sinh tôi phải chinh phục đỉnh Lapbe Nord, cao 1,732 mét, và đỉnh Lapbe Sud, cao 1,702 mét. Đúng ra Khóa Sinh  phải chinh phục đỉnh núi Lâm Viên theo truyền thống, nhưng v́ t́nh h́nh an ninh tại địa phương  và cũng v́ có một số tân khóa sinh do t́nh trạng sức khỏe không thể đáp ứng với mọi thử thách, nên quân trường cho Khóa Sinh  chinh phục hai đỉnh núi như đă nêu trên. Sau đó, có bảy tân khóa sinh của Khóa 26, v́ t́nh trạng sức khỏe không thể tiếp tục các chương tŕnh thụ huấn sau này, nên họ được quân trường cho về đời sống dân sự.

Đêm 28 tháng 02 năm 1970 là lễ gắn Alpha tại Vũ Đ́nh Trường Lê Lợi. Có 189 tân khóa sinh Khóa 26 được gắn Alpha Đỏ và chính thức trở thành những SVSQ của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Sau lễ gắn Alpha là đến chương tŕnh huấn luyện của Mùa Văn Hóa Vụ. Hải Quân Đại Tá Nguyễn Vân là Văn Hóa Vụ Trưởng.

 

Việt cộng tấn công quân trường Vơ Bị

Trong năm thứ nhất, ngoài vấn đề thụ huấn các môn học, các SVSQ Khóa 26 c̣n có nhiệm vụ canh gác và giữ an ninh tại Cổng Nam Quan của quân trường. Tôi (cựu sinh viên sĩ quan của Khóa 26) c̣n nhớ trong đêm 29 tháng 4 năm 1970, việt cộng bất ngờ đột kích tấn công quân trường Vơ Bị. Trong lúc giao tranh với địch quân, SVSQ Bùi Lễ (G26) đă bắn hạ một tên việt cộng tại vọng gác bên hông Bộ Chỉ Huy Quân Trường Vơ Bị, anh này được cấp trên tưởng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng.

Vào khoảng tháng 6 năm 1970, việt cộng lại đột kích lần nữa. Trong cuộc giao tranh này, địch phá hàng rào pḥng thủ trên đường ṃn dẫn đến hội quán Huỳnh Kim Quang, nhưng chúng đă bị phát giác từ bên ngoài ṿng rào .

 

Chương tŕnh huấn luyện năm thứ hai (1971) :

Đến cuối năm 1970, tổng kết thành tích văn hóa và quân sự toàn niên, có 182 SVSQ Khóa 26 được chấp nhận trở thành SVSQ năm thứ hai và được nghỉ phép về thăm gia đ́nh hai tuần lễ. Trong lúc này, có 7 SVSQ bị đưa ra trường sớm, v́ vài lư do đặc biệt hoặc thiếu điểm văn hóa. Họ được chuyển về thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Chương tŕnh huấn luyện của năm hai (1971) cũng là bắt đầu vào chương tŕnh của Mùa Quân Sự từ tháng 12 năm 1970 đến tháng 02 năm 1971. Lúc đó, Đại Tá Nguyễn Văn Sử là Quân Sự Vụ Trưởng.

Các SVSQ Khóa 26 được huấn luyện về chiến thuật cấp trung đội và các môn học liên quan đến vũ khí cộng đồng, vũ khí khối cộng, địa h́nh, truyền tin, thiết giáp, quân nhu, tiếp vận…

Cuối tháng 10 năm 1971, SVSQ Khóa 26 lên đường thăm viếng và thực tập tại một số quân trường bạn, cùng các đơn vị yểm trợ và trung tâm huấn luyện, như Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân tại Dục Mỹ, Trường Công Binh tại B́nh Dương, căn cứ Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến Sóng Thần tại Thủ Đức, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân và Không Quân tại Nha Trang, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, trường Pháo Binh Dục Mỹ, và trường Thiết Giáp Long Thành. Ngoài ra, các SVSQ  c̣n đến thăm viếng các đơn vị yểm trợ và tiếp vận như Quân Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, Trung Tâm Khai Thác An Bài Điện Tử trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và Hải Quân Công Xưởng tại Sàig̣n .

Trong năm thứ hai, về chương tŕnh huấn luyện Văn Hóa Vụ, do Đại Tá Nguyễn Văn Huệ là Văn Hóa Trưởng đảm trách, gồm các môn học như Giải Tích 3, Thống Kê, Vật Lư 1, Vật Lư 2, Cố Thể 1, Cố Thể 2, Trắc Lượng 1, Trắc Lượng 2, Mạch Điện, Anh Ngữ 3, Anh Ngữ 4, Tư Tưởng Chính Trị, và Chính Thể Hiện Đại.

Tháng 9 năm 1971, đột nhiên có một phái đoàn chuyên viên trắc nghiệm của Tổng Cục Quân Huấn đến trường Vơ Bị tổ chức buổi sát hạch để tuyển chọn những SVSQ Khóa 26 được về các quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH). Phái đoàn này đă trang bị nhiều thiết bị tân tiến. Trong buổi sát hạch được chú trọng về kỹ năng khéo léo và khả năng nghe của tai và sự tinh tế của đôi mắt, để tuyển chọn ứng viên cho chương tŕnh Liên Quân Chủng của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Sự việc này cũng để đào tạo các Sĩ Quan Hiện Dịch xuất thân từ Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam và trong tương lai, họ cũng sẽ phục vụ cho các Quân Chủng Không Quân và  Hải Quân. Và chương tŕnh Liên Quân Chủng đă được thực thi từ Khóa 25 SVSQ Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam. Các SVSQ Khóa 26 được phân chia cho chương tŕnh Liên Quân Chủng gồm có Không Quân 15 SVSQ, Hải Quân 22 SVSQ, số c̣n lại thuộc Lục Quân với tổng số 145 SVSQ .

Đến năm 1971, Khóa 26 có tin buồn, đó là SVSQ Lê văn Hùng (A26) tử vong v́ bệnh sốt rét, do bị nhiễm vi trùng bệnh trong chuyến du hành thăm Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. V́ thế, tổng số SVSQ Khóa 26 hiện diện tại hàng là 181 người.

Ngoài các buổi học văn hóa của năm (5) ngày chính trong tuần, vào mỗi thứ Bảy các SVSQ được tham dự các buổi huấn luyện về Tâm Lư Chiến, lănh đạo chỉ huy và các công tác huấn đạo, do Đại Úy Vơ Văn Sung và Đại Úy Kiên giảng dạy.

Về phần kiến thức quân sự, các khóa sinh Khóa 26 c̣n được bổ túc bằng các buổi học kinh nghiệm chiến trường, do các sĩ quan niên trưởng trở về thăm trường Mẹ, và truyền đạt lại cho khóa đàn em đang thụ huấn.

Trong môn học Quyền Anh do vơ sư Văn Đại hướng dẫn, đến năm thứ hai các SVSQ Khóa 26 được chọn học Thái Cực Đạo hay Nhu Đạo cho đến hết năm thứ tư. Các SVSQ có đẳng cấp đai từ dân chính được thi đấu sát hạch và đeo đai thích hợp.

 

Chương tŕnh huấn luyện năm thứ ba (1972) :

Cũng như chương tŕnh của hai năm vừa qua, Mùa Quân Sự được bắt đầu từ tháng 12 năm 1971 đến tháng 02 năm 1972. Đại Tá Nguyễn Văn Sử là Quân Sự Vụ Trưởng.

Sau hai năm đầu, SVSQ Khóa 26 hoán chuyển đại đội, đồng thời hai đại đội mới được thành lập cho các SVSQ Khóa 26 được tuyển chọn học chương tŕnh mùa quân sự năm thứ ba, bao gồm một đại đội học Không Quân, và một đại đội học Hải Quân.

Các SVSQ Khóa 26 thuộc Đại Đội Không Quân được di chuyển ra Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang để được thụ huấn chương tŕnh quân sự chuyên môn về: Khí Tượng, Không Hành, Phi Cụ, Không Lưu, Bảo Tŕ Phi Cơ, Anh Ngữ, Phi Hành…

Trong Mùa Văn Hóa, Đại Đội Không Quân học thêm các môn như cấu trúc phi cơ, khí tượng học, vũ khí trang bị trên phi cơ và được huấn luyện về cơ cấu tổ chức, điều hành và phối hợp hành quân của các Phi Đoàn Chiến Đấu, Vận Tải, và Quan Sát tại các Không Đoàn Chiến Thuật.

Trong chương tŕnh thụ huấn, các SVSQ Khóa 26 trong ngành Không Quân được tổ chức đi thăm viếng Sư Đoàn 2 Không Quân tại Nha Trang, Sư Đoàn 3 Không Quân tại Biên Ḥa, Sư Đoàn 4 Không Quân tại Cần Thơ và Bộ Tư Lệnh Không Quân tại Sài G̣n.

Trong lúc đó, các SVSQ Khóa 26 thuộc Đại Đội Hải Quân rời trường và đến Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang để được huấn luyện chuyên môn căn bản sĩ quan ngành chỉ huy và lư thuyết các môn Giám Lộ, Hải Hành, Hải Pháo, Truyền Tin, Thám Xuất và Vận Chuyển, Pḥng Tai. Sau đó các SVSQ Hải Quân được thực tập trên những thủy đỉnh về vận chuyển, cặp cầu, đo phương giác, định vị trí chiến hạm bằng radar…

C̣n các SVSQ Khóa 26 thuộc các binh chủng Lục Quân th́ học chiến thuật cấp Đại Đội, sử dụng vũ khí nặng, điều chỉnh pháo binh, thực tập hành quân trực thăng vận.

Trong chương tŕnh thụ huấn này, tổng số 145 SVSQ Khóa 26 Lục Quân về Trại Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn Nhảy Dù, Sàig̣n để học Khóa 251 Nhảy Dù từ ngày 21 tháng 02 năm  1972 đến ngày  10 tháng 3 năm 1972. Sau đó, kết thúc khóa học qua phần biểu diễn nhảy dù xuống tại Sân Cù thành phố Đà Lạt.

Đến Mùa Văn Hóa của năm thứ ba, từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 11 năm 1972 do Đại Tá Nguyễn Văn Huệ là Văn Hóa Vụ Trưởng, bao gồm các môn học: Tân Vật Lư, Cố Thể 3, Lưu Chất 1, Lưu Chất 2, Điện Tử, Điện Khí 1, Điện Khí 2, Kiến Tạo 1, Kiến Tạo 2, Tâm Lư, Luật, Kinh Tế, Khí Tượng, Hàng Hải và thực tập tại các pḥng thí nghiệm.

 

Đang thụ huấn, quân Bắc Việt xâm lược miền Nam :

Đến Mùa Quân Sự năm thứ ba của Khóa 26, cuộc chiến tại miền Nam trở nên sôi động. Cộng quân vượt sông Bến Hải và tấn công các tỉnh miền Trung. Trong các trận đánh, có trận Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 đă gây nhiều lời dự đoán rằng, các tân sĩ quan của Khóa 26 Vơ Bị phải ra trường sớm để đáp ứng t́nh h́nh chiến trường.

Cũng trong t́nh thế nguy ngập này, tháng 5 năm 1972, Đại Tá Quân Sự Vụ Trưởng Nguyễn Văn Sử bị ám sát bằng lựu đạn mini M67 và tử thương ngay pḥng ngủ ở quân trường Vơ Bị tại pḥng trực Lê Lợi. Tuy nhiên, An Ninh Quân Đội không t́m ra manh mối khi điều tra án mạng này .

T́nh h́nh tại miền Trung lúc đó, quân cộng sản Bắc Việt bắt đầu tấn công mạnh vào những căn cứ đóng quân của Quân Lực VNCH. Trong t́nh thế chiến sự này, vào tháng 5 năm 1972, Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ nhận chức vụ Tân Chỉ Huy Trưởng trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, c̣n Trung Tướng Lâm Quang Thi được lệnh ra Quân Khu 1 nhận chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I.

Đêm 9 tháng 9 năm  1972, SVSQ Khóa 26 tổ chức Lễ Trao Nhẫn Truyền Thống với sự tham dự đông đảo của thân nhân. Đến ngày 15 tháng 12 năm 1972, Khóa 25 trong Lễ Măn Khóa đă trao Hệ Thống Tự Chỉ Huy cho Khóa 26. Đồng thời Khóa 25 cũng bàn giao Quốc Quân Kỳ cho Khóa 26. Lúc đó thủ khoa Khóa 25 là Hải Quân Thiếu Úy Nguyễn Anh Dũng.

 

Chương tŕnh huấn luyện năm thứ tư (1973) :

Trong năm cuối cùng này, Mùa Quân Sự được bắt đầu từ tháng 12 năm 1972 đến tháng 02 năm 1973. Trung Tá Nguyễn Thúc Hùng là Quân Sự Vụ Trưởng. Đến thời gian này, SVSQ Khóa 26 đảm nhận Hệ Thống Tự Chỉ Huy Trung Đoàn SVSQ.

Hệ Thống Tự Chỉ Huy Trung Đoàn SVSQ 1973 đợt I và đợt II với quân phục của mùa Hè và mùa Đông. Nhiệm vụ của SVSQ Khóa 26 Lục Quân Tiểu đoàn 1 huấn luyện các tân khóa sinh Khóa 29. Đợt 1 từ ngày 29 Tháng Mười Hai, 1972  đến ngày 25 Tháng Giêng, 1973.

Chương tŕnh huấn luyện của SVSQ Khóa 26 Lục Quân được chia làm hai đợt. Thứ nhất, di chuyển đến Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang vào tháng 01 đến tháng 3 năm 1973, để thụ huấn khóa Rừng Núi Śnh Lầy. Thứ hai, thụ huấn Viễn Thám Đặc Biệt 1 và 2.

(Phụ chú : Theo tài liệu [28] : Kể từ khóa 16 tất cả những sinh viên sĩ quan Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam  Đà Lạt (tháng 12/1962), trước khi ra Trường đều phải về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ học Khóa Rừng Núi Śnh Lầy (nghĩa là Khóa 16 Vơ Bị học Khóa 14 RNSL Dục Mỹ). Khởi đầu chỉ có hai tuần, nhưng những khóa kế tiếp theo chương tŕnh huấn luyện lần lượt thay đổi đến sáu tuần lễ .

Xem thêm  các chi tiết  kinh nghiệm thụ huấn Khóa Rừng Núi  Śnh Lầy ghi lại bởi một sinh viên sĩ quan Khóa  22 Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam trong tài liệu [29] .

Theo tài liệu [28] : Qua 63 khóa huấn luyện RNSL, chỉ một lần duy nhất là vào tháng 11 năm 1964, Khóa 19 của Trường Vơ Bị  Đà Lạt về Dục Mỹ học Khóa 17 RNSL đă xảy ra một tai nạn trong huấn luyện. Trong bài tập về địa h́nh và đột kích đêm ở gần Ḥn Khô (Đông–Nam Ninh Ḥa 4 cây số), một phần khóa sinh (mang vần chữ T) của khóa học đă đi lạc vào một băi ḿn bỏ hoang, ḿn phát nổ làm 6 người tử thương và 15 người bị thương. Huấn luyện viên hướng dẫn địa h́nh của bài tập hôm đó là Trung Úy Lê Phú Đào (Khóa 15 Vơ Bị Quốc Gia)) .

C̣n Đại Đội Không Quân ra Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang thụ huấn chuyên nghiệp, với các môn học lư thuyết địa huấn và tập bay và hoàn tất chương tŕnh bay solo T41.

Cùng lúc đó, Đại Đội Khóa 26 Hải Quân di chuyển đến Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang thụ huấn chuyên nghiệp và thực tập hải nghiệp, đồng thời cũng đến thăm viếng các đơn vị Hải Quân duyên hải, đài kiểm báo, căn cứ Hải Quân Cam Ranh và đến thăm viếng các chiến hạm của Hải Quân VNCH.

Các SVSQ cán bộ Khóa 26 Lục Quân Tiểu Đoàn 2 có nhiệm vụ huấn luyện các tân khóa sinh Khóa 29. Đợt 2 từ ngày 26 tháng 01 đến 22 1háng 02 năm 1973, và hướng dẫn tân khóa sinh Khóa 29 chinh phục đỉnh Lâm Viên trong thời gian này.

Khi Tiểu Đoàn I SVSQ Khóa 26 Lục Quân đi học Khóa 2 Rừng Núi Śnh Lầy và Viễn Thám Đặc Biệt tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang, v́ vi phạm kỷ luật, một SVSQ phải ra hội đồng kỷ luật và bị h́nh phạt rời trường với cấp bậc thượng sĩ. Tổng số SVSQ Khóa 26 c̣n lại là 180 người.

 

Trong 4 năm học SVSQ chỉ được phép ở lại lớp một lần. Sinh viên sĩ quan tốt nghiệp, ngoài cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, c̣n được nhận văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa và các trường Đại học Hoa Kỳ công nhận.

Tài liệu [1]  cũng viết tương tự như trên :  Các tân sĩ quan các khoá sau cùng, ngoài bằng Tốt Nghiệp của Trường VBQGVN, c̣n được cấp văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng, tương đượng với các trường đại học khác, hoặc các trường quân sự khác trên thế giới .

 

H́nh trích từ tài liệu [19]  

 

 

Văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng cấp cho sĩ quan Khóa 22 (?)  - H́nh trích từ tài liệu [19]  

 

 

 

Văn Bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng cấp  năm 1974 cho sĩ quan Khóa 26 -H́nh trích từ tài liệu [20] & [30]    

 

 

Chúng Chỉ tốt nghiệp cấp cho sĩ quan Khóa 27 - H́nh trích từ tài liệu [20]  

 

 

Văn bằng Nhảy Dù cấp bởi Bộ Quốc Pḥng - H́nh trích từ tài liệu [20]  

 

Tới đây xin ghi thêm vài hàng  để làm minh bạch việc tương đương văn  bằng tốt nghiệp Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam với văn  bằng  Cử Nhân của các trường Đại học .

Như đă ghi ở trên , vào năm 1959 ,Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kư Nghị Định 317/ QP/ TT thành lập "Trường Vơ Bị Quốc Gia"   với sinh viên tốt nghiệp có tŕnh độ Đại học.

Tài liệu viết [5]  : Học tŕnh lúc đầu tương đương với hệ Cao Đẳng, sinh viên măn khóa coi như hoàn tất bằng Tú Tài Toàn Phần (Tú Tài 2)  và được nhận chứng chỉ tốt nghiệp tương đương với bằng Kỹ Sư.

(Phụ chú : Từ  năm 1962, các sinh viên được nhận vào Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam đă có văn bằng Tú Tài Toàn Phần (Tú Tài 2), như vậy không thể  được coi là hoàn tất bằng Tú Tài Toàn Phần  ! ).

Tài liệu [1] cũng viết tương tự  :  Các sĩ quan tốt nghiệp được cấp văn bằng Tốt Nghiệp Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, tương đương với Văn Bằn Kỹ Sư tốt nghiệp từ các Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Dân Chính dân sự.

Theo tài liệu [13] : Mặc dù trên lư thuyết, Nghị định 317/ QP/ TT kư bởi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đặt sự giáo huấn của trường Vơ Bị  Quốc Gia ngang hàng với các trường Đại học Sàig̣n, Huế và Đà Lạt, chương tŕnh học tại Vơ Bị Quốc Gia chỉ kéo dài trong 3 năm và v́ vậy tŕnh độ tương đương không được chấp nhận.

Chương tŕnh học bốn (4) năm được chấp thuận năm 1961 nhưng chỉ có hiệu lực chưa đầy một  (1) năm v́ kể từ tháng 8 năm 1962 do sự thiếu hụt sĩ quan cấp dưới, trường VBQGVN được đặt dưới sự huấn luyện trong thời chiến và chương tŕnh chỉ kéo dài trong  hai (2) năm.

Theo tài liệu [9] :  Sau khi quân đội đă chiến đấu vững vàng, vào ngày 13 tháng 12 năm 1966, Thủ Tướng Chính Phủ kư nghị định tái áp dụng chương tŕnh 4 năm bắt đầu với khóa 22. Từ đó các tân sĩ quan tốt nghiệp Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam  (TVBQGVN) đều có tŕnh độ học vấn được Bộ Giáo Dục Quốc Gia chính thức công nhận ngang hàng với bất cứ trường đại học 4 năm công lập nào của Việt Nam.

Theo Bảng 1 ở trên, chỉ có  khóa 22B năm 1965 (tốt nghiệp năm 1969)  đến khóa 27 năm 1970 (tốt nghiệp năm 1974) có thời gian huần luyện 48 tháng  đầy đủ .

Theo tài liệu [3] : Kể từ khóa 26 (bắt đầu năm 1969) trở về sau, ngoài Văn Bằng Tốt Nghiệp TVBQGVN, tân sĩ quan cũng nhận thêm Văn Bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng  ngoại trừ các khóa được măn khóa sớm hơn 4 năm.

Các tân sĩ quan được nhận lănh hai văn bằng nói trên, được nhiều trường đại học Hoa Kỳ công nhận và chấp nhận cho theo học các chương tŕnh bậc cao học, theo học chương tŕnh của Master of Science (MS) hoặc Master of Arts (MA).

Theo tài liệu [7] &  [8] : Kể từ khóa 22B (làm lễ tốt nghiệp ngày12 tháng 12 năm 1969) với văn bằng tốt nghiệp có ghi rơ hàng chữ: " Văn bằng này có giá trị tương đương với văn bằng Kỹ Sư tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật dân chính", do Tổng Trưởng Quốc Pḥng ấn kư, chiếu theo Nghị Định số 2349/NĐ/QP kư ngày 13 tháng 12 năm 1966 và Nghị Định số 855/NĐ/QP ngày 27 tháng 12 năm 1967 (ấn định quy chế và giá trị văn bằng tốt nghiệp Trường VBQGVN), cho đến khi những sinh viên sĩ quan tốt nghiệp từ khóa 25, 26, 27 với văn bằng ghi rơ: " Văn bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng" (theo Nghị Định số 663ND/ QP do Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm kư ngày 31 tháng 7 năm 1973).

Mặc dầu đă có hai (2)  Nghị Định ấn định học vị  kư bởi Tổng Trưởng Quốc Pḥng và Thủ Tướng Chính Phủ  , nhưng  trên thực tế văn bằng tốt nghiệp Trường VBQGVN vẫn không được các đại học dân sự chấp nhận tương đương.

 Thiếu Tướng Lâm Quang Thi ,Chỉ Huy Trưởng của Trường, là người có công đầu trong cuộc vận động hết sức khó khăn, tế nhị  để xin tương đương bằng cấp và Hải Quân Đại Tá Nguyễn Vân, Văn Hóa Vụ Trưởng vào giai đoạn đó cũng là người góp phần không nhỏ để đạt được thành quả tốt đẹp cho chương tŕnh văn hóa 4 năm của TVBQGVN.

Không phải vị viện trưởng đại học dân sự nào cũng có cảm t́nh với trường Vơ Bị v́ đa số họ được đào tạo, tốt nghiệp tại Pháp và các quốc gia Âu Châu, trong khi chương tŕnh học và thi cử của Trường VBQGVN th́ hoàn toàn áp dụng hệ thống tín chỉ (credit system) như trường Vơ Bị West Point, Hoa Kỳ.

Tưóng Thi cho biết, khi ông đến trọng nhậm ngôi trường này th́ kế hoạch phát triển đă thực hiện được nửa đoạn đường với sự giúp đỡ của Hoa kỳ để chuẩn bị cho chương tŕnh giáo dục SVSQ hệ 4 năm. Một công ty xây cất của Mỹ, theo chương tŕnh viện trợ quân sự đang hoàn tất giai đoạn của một pḥng thí nghiệm "Nặng" bao gồm một khu tác xạ ngầm dưới đất (underground firing range), một ṭa nhà 2 tầng lầu và một khu giải khát. Chẳng bao lâu sau, pḥng thí nghiệm đă nhận được trang thiết bị kỹ thuật cơ khí, điện và dân dụng rất tối tân, phần lớn đến từ trường Vơ Bị West Point của Hoa Kỳ. Thư viện cũng nhận được hàng ngàn cuốn sách về các ngành học từ các trường đại học Mỹ. Chính chương tŕnh viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cũng đă cử đến trường một chuyên gia về ngành thư viện để huấn luyện chuyên môn cho nhân viên phục vụ tại thư viện của nhà trường.

Ông cho biết, để nâng ngôi trường này lên một tầm mức quốc tế, chính phủ Hoa Kư đă gửi đến nhà trường một cố vấn đoàn gồm 6 người, đứng đầu là Đại tá Wyrough  tốt nghiệp trường Vơ Bị West Point và đă phụ tá cho Tướng Creighton Abrams, Tư lệnh phó, quân đội Mỹ ở Việt Nam. Cố vấn đoàn này gồm 1 sĩ quan lục quân với học vị tiến sĩ ngành kỹ sư dân dụng, một sĩ quan không quân tiến sĩ khoa học xă hội. Họ giúp đỡ cho quư vị giáo sư đoàn biên soạn các giảng khóa cho chương tŕnh 4 năm và sắp đặt thiết bị nặng cho pḥng thí nghiệm vừa mới hoàn thành.

Theo học tŕnh (curriculum) mới này, thời biểu của SVSQ chia ra 2 giai đoạn, mùa văn hóa và mùa quân sự.

Tướng Thi cho biết ông là người rất nhiệt thành ủng hộ cho chương tŕnh học 4 năm. Nhưng ông xác nhận là có rất nhiều vấn đề phức tạp, tế nhị cần được giải quyết liên hệ đến 4 lănh vực: Cơ sở trường ốc, điều kiện tuyển chọn sinh viên, chương tŕnh học và giảng huấn đoàn.

1- Cơ sở trường ốc (Facilities) là một ngôi trường chiếm lĩnh cả một ngọn đồi 1515 với nhiều ngôi nhà 2, 3 tầng đồ sộ, nhất là các pḥng học rất khang trang, sáng sủa với mỗi lớp chỉ có từ 16 đến 20 sinh viên, Trường rất hănh diện có được một pḥng thí nghiệm nặng về cơ khí tốt nhất nước và một thư viện rất khang trang, đầy đủ các loại sách, báo…

2- Điều kiện tuyển chọn sinh viên (student selection): Muốn được dự thi nhập học Trường VBQGVN, sinh viên phải có tối thiểu là văn bằng Tú tài 2 ban B hay ban A hoặc một văn bằng ngoại quốc tương đương, độc thân, có sức khỏe tốt, tuổi từ 18 đến 20, cao từ 1.60 mét trở lên. Riêng điều kiện văn bằng Tú Tài 2 là điều kiện bắt buộc chung để tất cả các học sinh tốt nghiệp bước chân vào các trường Đại học Quốc gia.

3- Chương tŕnh học (Curriculum): kéo dài 4 năm được sắp đủ để lấy một học vị thuộc ngành kỹ sư bách khoa hay văn bằng cử nhân khoa học ứng dụng.

 Hệ thống tín chỉ (credit system) theo đường lối giáo dục hiện nay của Hoa Kỳ, được Tướng Thi cho áp dụng triệt để trong công cuộc cải cách giáo dục của Việt Nam vào thời đó. Trong khi đó đa số các trường Đại học dân sự đều theo lề lối học và thi cử theo cách của người Pháp. Hệ thống tín chỉ này là một lợi thế để Tướng Thi mặc cả với ủy ban công nhận văn bằng ( The Accreditation Committee) của Liên Viện Đại Học Quốc Gia.

4- Giảng huấn đoàn (Teaching Staff):  Tướng Thi xác nhận nhà trường quả thực đă thiếu cả lượng (quantity) và phẩm (quality) trong thành phần giáo sư đoàn của Trường. Số giáo sư có văn bằng cử nhân th́ tương đối nhiều, nhưng cao học và tiến sĩ th́ lại rất ít. Để giải quyết vấn đề này, Tướng Thi đă đề nghị Bộ Quốc Pḥng và Bộ Tổng Tham Mưu tăng phái 100 sĩ quan trừ bị có văn bằng Cử Nhân trở lên về Trường và ông cũng đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu gởi các sĩ quan hiện dịch gồm cả SVSQ vừa tốt nghiệp chương tŕnh 4 năm sang Hoa Kỳ để đào tạo thành giáo sư tương lai cho trường.

Mặt khác ông cũng đề nghị lên Bộ Quốc Pḥng ra thông cáo tuyển dụng các giáo sư dân chính có văn bằng từ cao học trở lên đang giảng dạy tại các trường đại học quốc gia tham gia vào giảng huấn đoàn của Trường v́ năm thứ tư (1968-1969) của khóa 22B sắp khai giảng.

Sự chống đối công nhận văn bằng của Trường VBQGVN từ các đại học dân sự :  Trong nội bộ của các trường đại học như Saig̣n, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt...vẫn có sự chống đối ngấm ngầm giữa các giáo sư tốt nghiệp từ Pháp hay Âu Châu với các giáo sư tốt nghiệp từ các đại học Hoa Kỳ, Canada hay Úc Đại Lợi. Việc dành cho được một chân trong giảng huấn đoàn của các trường đại học không phải là dễ dù đă đổ đạt các học vị cao học hay tiến sĩ. Các đại học bấy giờ, đa số giới chức lănh đạo đều tốt nghiệp từ Pháp với cách học và thi cử theo lối cổ điển, mang tính từ chương. Trong khi lối học của Hoa Kỳ căn cứ theo hệ thống tín chỉ, mang tính thực tiễn và linh động hơn.

Tướng Lâm Quang Thi kể lại, dù Thủ Tướng Trần Thiên Khiêm rất ủng hộ việc cấp bằng "Kỹ Sư Bách Khoa" cho sinh viên tốt nghiệp 4 năm nhưng chính Thủ Tướng cũng gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của những vị viện trưởng các trường đại học dân sự.

Để thuyết phục các vị này, Thủ Tướng Trần Thiên Khiêm đề nghị Trường Vơ Bị nên mời các vị Viện trưởng của Đại Học Saig̣n, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt và giám đốc trường Kỹ Sư Phú Thọ lên thăm viếng trường để họ đánh giá chính xác hơn.

Như Tướng Thi mong đợi, các vị khách trong phái đoàn liên viện đại học đến thăm đă có được những căm t́nh thật tốt về Trường Vơ Bị. Sau khi được tŕnh bày sơ lược về chương tŕnh học, về việc xây dựng trường ốc… phái đoàn được hướng dẫn đến thăm pḥng thí nghiệm nặng, và phái đoàn rất ngạc nhiên khi thấy sinh viên sỉ quan đang thực tập với những trang thiết bị tối tân mà các đại học dân sự không có… Vị giám đốc trựng Kỹ Sư Phú Thọ, trong phái đoàn đă xin phép Trường cho họ được gởi sinh viên lên thực tập tại đây hàng năm. Khi đó, Tướng Thi đă nói đùa rằng "Tôi sẽ đón tiếp sinh viên của quư trường miễn rằng quư vị trao tặng học vị Kỹ Sư cho trường chúng tôi".

Khi được hướng dẫn đến thăm các lớp học, phái đoàn thật ngỡ ngàng khi lớp học ở đây thoáng mát, rộng răi mà chỉ từ 16 đến 20 sinh viên cho mỗi lớp học và sinh viên sĩ quan đang giải các phương tŕnh trên bảng đen dài từ bên này qua bên kia của lớp học. Sau cùng, phái đoàn lại vô cùng ngạc nhiên khi được hướng dẫn thăm thư viện của nhà trường, được xây cất đồ sộ và được quản lư sắp đặt hết sức chuyên nghiệp, rất tiện lợi cho việc tham khảo, nghiên cứu của sinh viên.

Phái đoàn đă bày tỏ những cảm nghĩ tốt đẹp của cuộc viếng thăm. Riêng giáo sư Lê Thanh Minh Châu đă hết ḷng ca ngợi, và ông c̣n cho rằng hệ thống giáo dục tại học viện này (theo hệ thống tín chỉ) là một kiểu mẫu tương lai cho các đại học dân sự Việt Nam mà Trường Vơ Bị đă đi tiên phong. Giáo sư  Lê Thanh Minh Châu, sau chuyến viếng thăm Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam trở về, đă tường tŕnh về Bộ Giáo Dục với lời đề nghị thuận tiện cho việc công nhận văn bằng tương đương mà học viện này cấp phát. Giáo sư cũng nói thêm ông đă cố gắng thực hiện hệ thống tín chỉ (Credit system) cho sinh viên đại học Huế kể từ khi ông đảm nhận chức vụ Viện trưởng.

Thành quả sau cùng đă đạt được là kể từ khóa 22B cho đến khóa 24, SVSQ tốt nghiệp Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam đă nhận lănh văn bằng Kỹ Sư Bách Khoa và kể từ khóa 25 trở về sau, khi tốt nghiệp SVSQ được nhận học vị " Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng".

 

Theo tài liệu [1] : Các sĩ quan tốt nghiệp được phân phối đi khắp các Quân, Binh, Chủng để đảm trách vai tṛ cán bộ Chỉ Huy hoặc Tham Mưu. Dù ở cương vị nào, kỹ thuật hay tác chiến, người Sĩ Quan xuất thân Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam vẫn luôn nuôi dưỡng tinh thần "Tự Thắng Để Chỉ Huy" và câu châm ngôn "Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm" là kim chỉ nam minh chứng mọi hành động vị quốc an dân.

‘’ Tự Thắng Để Chỉ Huy ‘’  là phương châm của  sinh viên sĩ quan trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt  và cũng là kim chỉ nam của nghệ thuật chỉ huy. Hay nói cách khác, muốn chỉ huy thuộc cấp phải tự thắng ḿnh trước.

Theo tài liệu [5] :Từ ngày thành lập cho đến tháng 4 năm 1975, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam (kể cả hai khóa ở Huế) đă huấn luyện và đào tạo cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được 35 khóa :  33 khóa đă thực sự ra trường với 6.583 sĩ quan hiện dịch (gần 7000 theo tài liệu [1])  cùng với gần 500 sinh viên sĩ quan thụ huấn ở 2 khóa  30 vá 31  cuối cùng. Trong số đó có được 61 vị tướng lănh (tại Huế 19 vị (Bảng 2), tại Đà Lạt 42 vị (Bảng 3). Ngoài ra c̣n có 10 vị tốt nghiệp trường  Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt (Bảng 4).

 

Bảng 2 : Tướng lĩnh xuất thân từ Trường Sĩ Quan Việt Nam ( Huế )

     Họ và Tên                 Cấp bậc                                 Năm

                                            phong cấp Khóa học     Chú  thích

      

1   Tôn Thất Đính          Trung tướng 1963                    Khóa 1  

2   Nguyễn Hữu Có            1965                             

3   Đặng Văn Quang                                                

4   Nguyễn Văn Thiệu                                              

5   Nguyễn Văn Mạnh        1970                         Khóa 2  

6   Ngô Du                                                                

7   Trần Văn Trung             1971                         Khóa 1  

8   Trần Thanh Phong        1972                         Khóa 2   Truy thăng

9   Hồ Văn Tố                Thiếu tướng 1958                        

10 Huỳnh Văn Cao                                                   

11 Tôn Thất Xứng              1964                         Khóa 1  

12 Nguyễn Văn Chuân      1965                             

13 Hoàng Văn Lạc             1969                         Khóa 2  

14 Bùi Đ́nh Đạm                1970                         Khóa 1  

15 Lê Ngọc Triển                                                  Khóa 2  

16 Nguyễn Thanh Sằng                                        1972                                       

17 Phan Xuân Nhuận      Chuẩn tướng 1966 Khóa 1  

18 Nguyễn Thành Hoàng      1968                         Khóa 2  

19 Lê Trung Tường            1974                             

 

Bảng 3 : Tướng lĩnh xuất thân từ  Vơ Bị Liên Quân

     Họ và Tên                 Cấp bậc                                 Năm
                                            phong cấp                Khóa học    Chú Thích

1   Hoàng Xuân Lăm     Trung tướng 1967                    Khóa 3  

2   Lữ Lan                           1969                             

3   Dư Quốc Đống              1970                         Khóa 5  

4   Nguyễn Viết Thanh                                        Khóa 4   Truy thăng

5   Phan Trọng Chinh                                           Khóa 5  

6   Lâm Quang Thi             1971                         Khóa 3  

7   Nguyễn Xuân Thịnh                                            

8   Phạm Quốc Thuần                                          Khóa 5  

9   Nguyễn Văn Minh         1972                         Khóa 4  

10 Nguyễn Vĩnh Nghi         1974                         Khóa 5  

11 Nguyễn Văn Toàn                                               

12 Nguyễn Văn Hiếu          1975                         Khóa 3   Truy thăng

13 Nguyễn Cao             Thiếu tướng 1965                    Khóa 4  

14 Trương Quang Ân         1968                         Khóa 7   Truy thăng

15 Lâm Quang Thơ            1970                         Khóa 3  

16 Phạm Văn Phú              1971                         Khóa 8   Tự sát ngày 30/4/1975

17 Trần Bá Di                     1972                         Khóa 5  

18 Đào Duy Ân                   1974                         Khóa 4  

19 Đỗ Kế Giai                                                       Khóa 5  

20 Lê Minh Đảo                  1975                         Khóa 10

21 Phan Đ́nh Niệm                                             Khóa 4  

22 Trần Văn Hai      Chuẩn tướng 1970 Khóa 7   Tự sát ngày 30/4/1975

23 Vũ Văn Giai                   1971                         Khóa 10

24 Nguyễn Văn Phước                                             Khóa 3                      Truy thăng

25 Lư Ṭng Bá                    1972                         Khóa 6  

26 Trần Văn Cẩm                                                 Khóa 5  

27 Vơ Dinh                                                           Khóa 3  

28 Lê Đức Đạt                                                      Khóa 5   Truy thăng

29 Trương Hữu Đức                                            Khóa 10 Truy thăng

30 Lư Bá Hỷ                                                         Khóa 3  

31 Đỗ Kiến Nhiễu                                                 Khóa 4  

32 Trần Văn Nhựt                                                Khóa 10

33 Chương Dzềnh Quay                                             Khóa 5                     

34 Lê Văn Thân                                                   Khóa 7  

35 Trần Đ́nh Thọ                                                 Khóa 6  

36 Diệp Quang Thủy                                                

37 Lê Văn Tư                                                       Khóa 5  

38 Lư Đức Quân                 1973                         Khóa 8   Truy thăng

39 Trần Quang Khôi           1974                         Khóa 6  

40 Nguyễn Ngọc Oánh                                        Khóa 3  

41 Huỳnh Thới Tây            1975                         Khóa 8  

42 Mạch Văn Trường                                           Khóa 12

 

Bảng 4 : Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt

     Họ và Tên                Cấp bậc                                 Năm phong cấp                      Chú thích

1   Nguyễn Khánh         Đại tướng                       1964                                                                                                    Khoá 1                               Nguyễn Văn Thinh

2   Trần Thiện Khiêm                                                                                  Khóa 1   (1946-1947)            

3   Dương Văn Đức      Trung tướng                                                                    Khóa 1                                    

4   Trần Ngọc Tám                                                                                      Khóa 1                                                                          

5   Cao Hảo Hớn                                            1971                                                                                                    Khóa 1

6   Lâm Văn Phát               1975                                                                Khóa 1  

7   Đặng Thanh Liêm    Thiếu tướng 1964         Khóa 1       

8   Bùi Hữu Nhơn               1965                                                                Khóa 1  

9   Nguyễn Văn Kiểm         1968                                                                Khóa 1

10 Phạm Đăng Lân     Chuẩn tướng 1964                                                           Khóa 1  

 

Sau đây là chi tiết các sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 1 tới Khóa 22B trích từ tài liệu  [6] :

Hai Khóa 1 Phan Bội Châu (53 sĩ quan tốt nghiệp) và Khóa 2 Quang Trung (97 tốt nghiệp) ở Huế ra trường một số sĩ quan sau này trở thành những tướng lănh quan trọng của đầu thập niên 1960.

Thủ khoa Khóa 1 là trung tướng Nguyễn Hữu Có; Khóa 2 là thiếu tướng Hồ Văn Tố (chết bất th́nh ĺnh năm 1961 trong lúc chỉ huy Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức).

Những tướng lănh tốt nghiệp Khóa 1: Trung tướng như  Đặng Văn Quang; Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Thiệu; Trần Văn Trung và một số sĩ quan cấp thiếu tướng và chuẩn tướng như, Bùi Đ́nh Đạm; Phan Xuân Nhận; Tôn Thất Xứng; Nguyễn Văn Chuân.

Khóa 2 có chín sĩ quan trở thành tướng lănh :Trung tướng Ngô Dzu và Nguyễn Văn Mạnh, các thiếu tướng Trần Thanh Phong; Huỳnh Văn Cao , Hoàng Văn Lạc và Lê Ngọc Triển; và chuẩn tướng Lê Trung Tường. Trung tá Vương Văn Đông, một trong những nhân vật chủ mưu đảo chánh 11-11-1960, cũng ra từ Khóa 2 này.

Khóa 3 Trần Hưng Đạo có 135 sĩ quan tốt nghiệp. Đây là khóa đầu tiên khai giảng ở Đà Lạt.

Có chin (9) sĩ quan trở thành cấp tướng : Cấp tướng hạng “nặng kư.” Khóa 3 có bốn trung tướng Hoàng Xuân Lăm (tư lệnh Quân Đoàn I; tốt nghiệp hạng 5) , Nguyễn Xuân Thịnh (tư lệnh binh chủng Pháo Binh; hạng 8) , Lâm Quang Thi (tư lệnh tiền phương Quân Đoàn I; 12); và Lữ Lan (tư lệnh Quân Đoàn II, 24).

Hai sĩ quan tốt nghiệp trở thành tướng của Quân Chủng Không Quân là chuẩn tướng Vơ Dinh (tham mưu trưởng Không Quân VNCH) và chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Óanh (chỉ huy trưởng Trung Tâm Huyến Luyện Không Quân).

Hai thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu (Á khoa, tư lệnh phó Quân Đoàn III khi bị tai nạn súng chết) và Lâm Quang Thơ. Tướng Thơ và Thi đều trở về trường mẹ, làm chỉ huy trưởng trường Vơ Bị Quốc Gia.

Từ Khóa 4 (Khóa Lư Thường Kiệt, tháng 11-1951 – tháng 12-1951) đến Khóa 10 (Khóa Trần B́nh Trọng, tháng 10-1953 – tháng 6-1954) trường đào tạo thêm 23 tướng lănh. Phần lớn là những tướng hành quân/ tác chiến, hơn là tướng tham mưu/ hành chánh.

Khóa 4 có hai trung tướng là Nguyễn Văn Minh (tư lệnh QĐ III, 1972) và cố trung tướng Nguyễn Viết Thanh (tư lệnh QĐ IV khi tử nạn tháng 5-1970). Hai sĩ quan kia là chuẩn tướng Đỗ Kiến Nhiểu (đô trưởng Sài G̣n) và thủ khoa Nguyễn Cao Albert (giải ngũ).

Riêng tên của cố trung tướng Nguyễn Viết Thanh được đặt cho hai khóa tốt nghiệp sĩ quan của Quân Lực Viết Nam Cộng Ḥa : Khóa 6/1970 Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, và Khóa 26 Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Khóa 5 Hoàng Diệu (8-1951 – 5-1952), với 225 sĩ quan tốt nghiệp, là khóa đào tạo nhiều tướng lănh nhất : 10 sĩ quan cấp tướng.

Các trung tướng Nguyễn Văn Toàn , Nguyễn Vĩnh Nghi . Phạm Quốc Thuần , Dư Quốc Đống , Phan Trọng Chinh. Hai thiếu tướng Trần Bá Di và Đỗ Kế Giai.Các chuẩn tướng Trần Văn Cẩm , Chương Dzếnh Quay , Lê Văn Tư. Có ba đại tá tốt nghiệp khóa này cũng được nhắc đến nhiều là Dương Hiếu Nghĩa (thủ khoa, liên hệ đến vụ đảo chánh 1-11-1963) , Phạm Văn Liễu (ra trường hạng 19, liên hệ đến nhiều vụ đảo chánh)  và Lê Đức Đạt (hạng 20, tư lệnh sư đoàn 22 bộ binh khi bị mất tích ở Tân Cảnh tháng 4-1972).

Khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh (12-1951 – 10-1952)  181 sĩ quan tốt nghiệp) có ba chuẩn tướng Lư Ṭng Bá (thủ khoa) , Trần Quang Khôi (hạng 6); và Trần Đ́nh Thọ (hạng 79). Nhà văn trung tá Nguyễn Đạt Thịnh cũng đến từ khóa này.

Khóa 7 có chuẩn tướng Trương Quang Ân (thủ khoa, tử nạn trực thăng năm 1968) , Lê Văn Thân  và Trần Văn Hai.

Khóa 8 có thiếu tướng Phạm Văn Phú  và chuẩn tướng Huỳnh Thới Tây (tư lệnh Cảnh Sát Đặc Biệt).

Khóa 9 không có sĩ quan tốt nghiệp nào lên tướng.

Khóa 10 Trần B́nh Trọng (10-1953 – 6-1954) là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên, với 400 sĩ quan tốt nghiệp.

Thiếu tướng Lê Minh Đảo (hạng 18) , hai chuẩn tướng Vũ Văn Giai và Trần Văn Nhật. Mười khóa đầu của trường Vơ Bị Quốc Gia đào tạo tất cả 40 tướng trong số 80 tướng hiện dịch của năm 1974 (80 tướng hiện dịch không kể tướng của Quân Chủng Hải Quân hay Ngành Quân Y).

Trong khi 10 khóa đầu đào tạo nhiều tướng lănh chỉ huy của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, các Khóa 11 đến 20 đào tạo nhiều sĩ quan trung cấp, cột trụ của quân đội. Những sĩ quan cấp trung tá và đại tá của Khóa 14-18 hiện diện và chỉ huy hầu hết các đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .

Khóa 16 Ấp Chiến Lược (226 sĩ quan tốt nghiệp; thủ khoa Bùi Quyền) có nhiều sĩ quan đă lên đến cấp bậc trung tá hay đại tá, chỉ huy trung đoàn hay lữ đoàn trong quân đội.

Hai Khóa 19 và 20 th́ có nhiều sĩ quan tiểu đoàn trưởng.

Khóa 19 có 394 sĩ quan tốt nghiệp và là khóa kém may mắn nhất: Ba sĩ quan vừa tốt nghiệp vài ngày đă tử trận ngay ở chiến trường, trong đó thủ khoa Vơ Thành Kháng (trận B́nh Giả).

Khóa 20 được coi là đông nhất  với 406 tốt nghiệp , Thủ Khoa là Quách Tinh Cần.

 

 

H́nh trích từ  tài liệu [23] 

 

Khóa 22B là khóa đầu tiên ra trường với tŕnh độ văn hóa bốn năm. Nhưng khóa cũng không được may mắn khi thủ khoa Nguyễn Đức Phống bị tử trận vài tháng sau đó, trong cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt năm 1970.

Theo tài liệu [6] :  Những sĩ quan tốt nghiệp trường Vơ Bị Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông gồm có hai đại tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm , hai trung tướng Trần Ngọc Tám và Dương Văn Đức , các thiếu tướng Nguyễn Văn Kiểm (chánh vơ pḥng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu) , Lâm Văn Phát , Bùi Hữu Nhơn , Cao Hảo Hớn  và Dương Ngọc Lắm.

Năm 1947-1948, trường  dọn  về Vũng Tàu và có tên mới là École Militaire Nuoc Ngot (Trương Vơ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu).Những sĩ quan tốt nghiệp trường này có Trung Tướng Đỗ Cao Trí-Khóa 2 Đỗ Hữu Vị , Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang-Khóa 2  Đỗ Hữu Vị (Tham Mưu Phó Pḥng Nhân Viên, Bộ Tổng Tham Mưu) , Đại Tá Trang Văn Chính (chỉ huy phó Chiến Tranh Chính Trị)  và Đại Tá Bùi Quang Định (Bộ Chiêu Hồi).

Trong 5 năm, 1949-1953, một trung tâm huấn luyện hoàn hảo sĩ quan được thành lập ở Cap St. Jacques. Trung tâm huấn luyện năm khoá. Khóa 1 có những sĩ quan tốt nghiệp như  Đại Tướng Cao Văn Viên ,Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi , Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh và Đại Tá Vũ Quang Tài.

Theo tài liệu [21] : Đa số các cựu sinh viên sĩ quan Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam đă thành công trên đường binh nghiệp và làm vang danh Trường Mẹ.

 

Sau đây là 3 thiệp Xuân chúc Tết  ấn hành bởi  Trường Vơ Bị Quốc Gia  để các quân nhân trong Trường tặng người thân và bạn bè  (trích từ tài liệu [31] ) .

 

 

Thiệp chúc Tết Xuân Kỷ Dậu 1969 của Trường Vơ Bị Quốc Gia

 

 

 

Thiệp chúc Tết Xuân Quư Sữu 1973 của Trường Vơ Bị Quốc Gia

 

Thiệp chúc Tết của Trường Vơ Bị Quốc Gia- Năm không xác định

 

 

Vào những ngày tháng trước khi Sàig̣n thất thủ, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam , cũng giống như một sồ đơn vị quân đội trên chiến trường miền Trung , đă thực hiện các cuộc di tản về Nam :

Theo tài liệu [11]  :  

Tháng 3 năm 1975, Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ   đă chỉ huy việc di tản Trường Vơ Bị Quốc Gia khỏi Đà Lạt và hướng dẫn trên 1,000 sinh viên sĩ quan  các Khóa 28, 29, 30, và 31 rời khỏi trường từ Đà Lạt theo hướng Sông Pha về tới Phan Thiết. Nhờ kỷ luật tuyệt đối mà sinh viên sĩ quan  đang theo học tuân theo, cũng như được các đơn vị yểm trợ bảo vệ an ninh kỹ càng dọc đường hành quân, Trung Đoàn sinh viên sĩ quan  đă an toàn về tới B́nh Tuy ngày 30 tháng 3 năm 1975. Nơi đây, trường đă tổ chức Lễ Tốt Nghiệp cho hai Khóa 28 và 29, trước 30 tháng Tư chin (9) ngày.

Theo tài liệu [32] :  Đoàn quân của sinh viên sĩ quan Trường Vơ Bị Đà Lạt hành quân trật tự và kỷ luật về tới B́nh Tuy vào ngày 01 tháng 4 đă làm cho Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt  (lúc đó là Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh) rất cảm động.  Đoàn quân này là lực lượng duy nhất trong số các đơn vị  quân đội  khác di tản về B́nh Tuy được giữ lại vũ khí cá nhân. Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ   cũng bay ra B́nh Tuy khích lệ tinh thần các sinh viên sĩ quan này. Ngày 05 tháng  4 năm 1975, các vận tải cơ C130 hoàn tất việc vận chuyển sinh viên sĩ quan Đà Lạt về Long Thành.

Và theo tài liệu [32] &  [33]  :  Đầu tháng 4 năm  1975, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam di tản từ Đà Lạt về Long Thành và tạm trú chung với Trường Bộ Binh.

(Chú thích : Trường Bộ Binh lúc trước tọa lạc ở Thủ Đức. Đến đầu năm 1974 th́ dời ra Long Thành. Tại đây Trường Bộ Binh kết hợp với Trường Thiết Giáp và Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế, lập thành Huấn khu Long Thành) .

Hai tuần sau Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam cho làm lể mản khóa hai khóa 28 và 29 ra trường cùng một lúc, c̣n lại hai khóa 30 và 31.

Ngoài ra, theo tài liệu  [34] : Giữa tháng 4 năm 1975, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam do Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ rút về đây với số sinh viên sĩ quan và cơ hữu khoảng 500 người . Trường Bộ Binh yểm trợ hành chánh và tiếp vận và đă tổ chức măn Khóa cho 2 Khóa: Khóa 28 Nguyễn Đ́nh Bảo và  và Khóa 29 Hoàng Lê Cường Sĩ Quan Hiện Dịch vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, Đại Diện Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa.

Cuối cùng ,theo tài liệu [33] & [35] : Ngày 22 tháng 4, 1975, Trường Bộ Binh và Truờng Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam được lệnh di tản về Thủ Đức,tỉnh Gia Định. Trong lúc này Trung Tướng Nguyễn Băo Trị  chỉ định Đại tá Lộ Công Danh  đang là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Bộ Binh tạm thời thay thế Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ làm Chỉ Huy Trưởng Truờng Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam.

 

Theo tài liệu [1] & [21] : Sau năm 1975, dầu là Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam đă đi vào Quân Sử, nhưng truyền thống Bất Khuất và Hào Hùng chưa lịm tắt được trong tâm tư của những Sĩ Quan xuất thân từ Ngôi Trường lịch sử này. Những người nằm xuống đă trở thành những anh hùng vị quốc vong thân.

Để không bao giờ quên được các Sĩ Quan Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam đă  bị sát hại trong lao tù cộng sản hay  bỏ ḿnh trên đường t́m Tự Do , TM xin trích từ tài liệu [1] & [6] &   [21] &   [36]  , danh sách "Anh Hùng Hào Kiệt Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam" : Tuẫn Tiết, Bức Tử, Tử H́nh, Tạ Thế trong trại tù cộng sản sau 30/4/1975:

 

Danh sách "ANH HÙNG HÀO KIỆT TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM": Tuẫn Tiết - Bức Tử - Tử H́nh - Tạ Thế, trong trại tù Cộng Sản sau 30 tháng tư 1975:

 

1. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh SĐ5BB Khoá 2/TVBQGVN (khóa 2 Lê Lợi - trường Vơ Bị Địa Phương Huế)-Tuẩn tiết ngày 30/4/1975;

2. Đại tá Hồ Hồng Nam (Tổng Cục Chiên Tranh Chính Trị) Khoá 3/TVBQGVN - Vừa được ra tù năm 1978 th́ chết tại bệnh viện;

 3. Chuẩn tướng Trần Văn Hai, tư lệnh SĐ7BB Khoá 7/TVBQGVN-Tuẩn tiết ngày 30/4/1975;

4. Thiếu tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh QĐ2 Khoá 8/TVBQGVN-Tuẫn Tiết  ngày 30/4/1975;
5. Đại Tá Nguyễn Bá Th́n (Thủ khoa Khoá 8/TVBQGVN)-Chết trong tù cộng sản;
6. Th/Tá Đoàn Kỳ Long (Tổng Nha Cảnh Sát) Khoá 10/TVBQGVN-Tạ thế tại Trại Tù số 4 Xă Yên Lâm, huyện Thiếu Yên, Thanh Hóa năm 1979;

 7. Th/Tá Huỳnh Văn Thọ Khóa 12/TVBQGVN Bộ Chỉ Huy Pháo Binh, chết tại một trại tù miền Bắc;

8. Tr/Tá Lư Tấn Cẩm Khóa 12/TVBQGVN Công Binh Sư Đoàn 18, mất tích trên biển khi vượt biên tháng 5 năm 1975 ;

9. Th/Tá Trịnh Xuân Đắc Khóa 12/TVBQGVN,mất tích trên đường vượt biên;
10. Th/Tá Nguyễn Hữu Đăng (Quận Trưởng) Khóa 13/TVBQGVN-Tạ thế tại Trại Tù K1, Tân Lập, Vĩnh Phú năm 1979;

 11. Th/tá Lê Vĩnh Xuân ( Quân báo BKTĐ ) Khóa 3/TVBQGVN-Tự sát cùng với vợ con ngày 30/4/1975;

12. Th/tá Hoàng Tâm (Quân Nhu) Khóa 13/TVBQGVN -Tạ thế trong trại tù Hóc Môn 1976;
13. Th/tá Hồ Đắc Của (Bộ Binh QĐ1) Khóa 13/TVBQGVN-Trốn trại và bị hạ sát tại trại tù ở miền Trung;

 14. Đại Uư Nguyễn Thành Long Khóa 14/TVBQGVN-Bị biệt giam rồi tự tử chết tại Nhà Tù Suối Máu năm 1978;

15. Th/Tá Tôn Thất Luân Khóa 14/TVBQGVN-Tạ thế ở ngoài Bắc không rơ năm;
16. Thiếu tá Nguyễn Đỗ Tước Khóa 14/TVBQGVN-Tạ thế tại Làng Đá, tỉnh Yên Bá;
17. Tr/Tá Vơ Tín Khóa 14/TVBQGVN-Tạ thế tại đồi Cây Khế - xă Việt Cường -Huyện Trấn Yên,tỉnh Hoàng Liên Sơn;

18. Đại Tá Nguyễn Hữu Thông (Trung Đoàn Trưởng Tr/Đoàn 42, SĐ 22 BB) Khóa 16/TVBQGVN Tự sát tại tuyến Quy Nhơn; tự tử ở miền Trung sau khi từ chối lên tàu Hải Quân di tản năm 75.

19. Đại Tá Đặng Phương Thành (Trung đoàn Trưởng Tr/Đoàn 12/SĐ 7 BB) Khóa 16/TVBQGVN- Vượt ngục , bị bắt lại và bị địch đánh chết tại trại tù Hoàng Liên Sơn (BV), trước mặt nhiều tù nhân khác;

20. Th/Tá Vũ Văn Kiêm (Trưởng Pḥng 3 Tiểu Khu Gia Định) Khóa 17/TVBQGVN-Vượt ngục mất tích tại Trại Tù Bù Gia Mập Tháng 5, 1977. Tin tức do vợ là Vũ Nguyệt Ánh cung cấp;
21. Tr/Tá Huỳnh Văn Lượm (Lữ Đoàn Phó TQLC) Khóa 17/TVBQGVN-Té vào chảo nước sôi, chết tại trại tù Xuân Lộc Z30/A khoảng năm 1983;

22. Tr/Tá Vơ Vàng (Liên Đoàn Trưởng 9121 ĐPQ) Khóa 17/TVBQGVN-Bị cộng sản bắn chết ở Cầu Bồng Miêu, Quảng Nam Tháng 4, 1976 rồi vu cho tội trốn trại;
23. Tr/Tá Phạm Văn Nghym Khóa 18/TVBQGVN-Tạ thế tại trại tù Hoàng Liên Sơn;
24. Tr/Tá Trương Thanh Hưng Khóa 18/TVBQGVN-Tạ thế tại mặt trận Tiên Phước Quảng Tín, ngày cuối cuộc chiến ( khoảng tháng 2; 3/1975);

25. Đàm Đ́nh Loan Khóa 19/TVBQGVN-ạ thế tại Trại Tù Miền Bắc;
26. Nguyễn Văn Sinh Khoá 19/TVBQGVN-Vượt ngục ở Bù Gia Mập rồi mất tích;
27. Tr/Tá Huỳnh Như Xuân Khoá 19/TVBQGVN-Tạ thế tháng 12 năm 1979 tại trại tù Tiên Lănh ,tỉnh Quảng Nam;

28. Th/Tá Trần Văn Hợp (T. Đoàn Trưởng TĐ2 TQLC) Khoá 19/TVBQGVN-Tạ thế v́ ngộ độc tại trại 5 Kiên Thành, Ng̣i Lao, Yên Báy năm 1978;

 29. Th/tá Trần Văn Bé (Pḥng 2/TK Định tường) Khoá 19/TVBQGVN-Vượt ngục Suối Máu bị tử h́nh năm 1976;

30. Th/tá Lê Trọng Tài Khoá 19/TVBQGVN-Trốn trại Bù Gia Mập bị bắt và ám hại;
31. Tr/Tá Nguyễn Văn B́nh Khoá 19/TVBQGVN-Bị vc thủ tiêu tại Tiên Lănh;
32. Tr/Tá Lư Văn Sơn (Quận Trưởng Lư Tín (Chu Lai) Quảng Tín Khoá 19/TVBQGVN-Tử thương khoảng ngày 26/03/1975 tai Chu Lai;

33. Th/Tá Trần Khắc Am (Em ruột CSVSQ Trần Khắc Huyên K14) Khoá 19/TVBQGVN- Tù cs 7 năm, vượt biên mất tích năm 1987;

34. Th/Tá Nguyễn Đức Nhị Khoá 20/TVBQGVN-Tạ thế tại trại tù Tân Lập, Vĩnh Phú năm 1981;
35. Nguyễn Ngọc Cang Khoá 20/TVBQGVN-Tạ thế tại Trại Tù Hoàng Liên Sơn;
36. Th/Tá Huỳnh Túy Viên (Quận Trưởng Đầm Dơi) Khóa 20/TVBQGVN-Bị cộng sản tử h́nh bằng cách cho người móc mắt ngay tại quận lỵ Tháng 5, 1975;
37. Th/Tá Tôn Thất Trân (TĐT/TĐ 327 Địa Phương Quân) Khóa 20/TVBQGVN-Bị tên Thượng Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt Lê Văn Dậu, mang ra bờ rạch ở B́nh Chánh hạ sát ngày 30/4/1975;

38. Đai Úy Nguyễn Xuân (Văn ?) Thịnh (TĐT/ĐPQ TK Biên Ḥa) Khóa 20/TVBQGVN-Bi tử h́nh tại Long Giao, v́ bị bọn Cai Quản Tù bắt được lá thư có ư trốn trại gởi về gia đ́nh;
39. Trung Tá Lê văn Ngôn - Khóa 21/TVBQGVN-Chết tại tù Yên Bái;.

40. Đại Úy Hoàng trọng Khuê Khóa 21/TVBQGVN Bị tử h́nh tại G̣ Cà , tỉnh Quăng Nam năm 1981;

41. Đại Úy Trịnh Lan Phương Khóa 21/TVBQGVN-Tự sát tại Phủ Tổng Thống;
42.Th/Tá Đỗ công Hào Khóa 21/TVBQGVN-Tự sát tại BTL/QĐ1;
43. Đại Uư Đoàn Văn Xường(TĐP/TĐ38 BĐQ) Khoá 22/TVBQGVN-Vượt ngục -Bị bắt lại, sau khi bị đánh đập dă man và bị cho chết khát (không được cho uống nước) trong pḥng kiên giam của trại 6/Nghệ Tỉnh;

44. Đại Úy Huỳnh Hữu Đức Khoá 22/TVBQGVN-Mất Tích trên đường vượt trại cải tạo Bù Gia Mập, Phước Long nắm 78-1979;

45. Tr/Úy Vơ Văn Xương TĐ6/TQLC Khóa 22/TVBQGVN-Mất tích ? ;

46. Đại Uư Nguyễn Hữu Thức K22/TVBQGVN (cựu ĐĐT/Đại Đội D SVSQ); mất tích năm 1977 tại Kà Tum, Tây Ninh sau khi trốn trại.

47.Trung uư Lương Thanh Thủy K22/TVBQGVN (cựu ĐĐT/Đại Đội C SVSQ) - Năm 1977 sau khi troốn trại tù bị cs bắt lại và bị đành đến chết;

48. Th/Uư Hoàng Văn Nghị Khoá 23/TVBQGVN-Trốn trại bị cs bắt đem đi xử bắn;
49. Đại Úy Nguyễn Thuận Cát (ĐĐT/TĐ39/BĐQ) Khoá 24/TVBQGVN- Bị đánh đập cho đến chết tại trại tù Aí Tử, B́nh Điền;

 50. Tr/Úy Tôn Thất Đường Khoá 24/TVBQGVN- Tạ thế ngày 25-04-1976 trong vụ nổ kho đạn,tại trại tù Long Khánh;

 51. Tr/Uư Nguyễn Ngọc Bửu (Đại Đội Trưởng TQLC) Khóa 25/TVBQGVN-Vượt ngục Xuân Phước bị cs bắn chết tại Ấp Tây Sơn, Đắc Lắc ngày 19/11/1980;

 Phước bị bắn chết tại Ấp Tây Sơn , Đắc Lắc ngày 19-11-80.
52. Đỗ Văn Điền Khóa 25/TVBQGVN-Vượt ngục Xuân Phước bị hành quyết;
53. Phạm Thế Dũng Khóa 25/TVBQGVN-Vượt ngục bị bắt, chống cự bọn  cs quản giáo mang cờ Việt Nam Cộng Ḥa may quần đùi và bị Tử H́nh;

54. Hoàng Tấn Khóa 25/TVBQGVN-Vượt ngục bị bắt, hành quyết tại Đà Lạt;
55. Đại úy Vơ Văn Quảng (SD22BB) K25/TVBQGVN-Ra tù, đi vượt biên và chết trên đường t́m Tự Do;

 56. Trung Úy Lư Công Pẩu (AET) Khóa 26/TVBQGVN-Tử h́nh tại Trảng Lớn Tây Ninh 1975;
57. Trung Úy Đặng Văn Khải Khóa 26/TVBQGVN- Mất tích trên đường vượt trại cải tạo Bù Gia Mập, Phước Long năm 1978-1979;

58. Trung Úy Lê Văn Sâm (Thủy Quân Lục Chiến) Khóa 26/TVBQGVN-Trốn trại tại Phước Long 1978-1979, mất tích;

 59. Trung Úy Trần Văn Năm (Thủy Quân Lục Chiến) Khóa 26/TVBQGVN-Trốn trại, thí mạng với bọn cs bằng một quả lựu đạn để đồng đội chạy thoát trên đường về Đà Lạt; 60. Trung Úy Phạm Truy Phong (Pháo binh 175 Quân Khu II) Khóa26/TVBQGVN-Mất trong trai giam Tống Binh sau 1975;

61. Trung Úy Nguyễn Sỹ (Bộ binh) Khóa 26/TVBQGVN - Mất tích trong trại giam sau 1975;
62. Trung Uư Nguyễn Văn Trường (Nhảy Dù) Khóa 26/TVBQGVN-Mất tích trong trại giam sau 1975;

63. Trung ÚY Nguyễn Hoàng Khóa 26/TVBQGVN-Trốn trại Cây Cầy A (Tây Ninh) 1977-1978 bị bắn;

64. Th/Úy Bùi Thế Oanh (BĐQ) Khóa 27/TVBQGVN- Mất Tích trên đường vượt trại tù

Bù Gia Mập, Phước Long năm 1978-1980;

65. Thiếu úy Nguyễn Tánh (BDQ) K27/TVBQGVN-Sau 30/04/1975 tham gia Phục Quốc bị mất tích;

66. Thiếu úy Nguyễn Văn Hay (SD 25BB) K27/TVBQGVN-Bị mất tích sau 30/04/75;
67. Thiếu úy Nguyễn Văn Chung (SD 9BB) K27/TVBQGVN - Năm 1977 sau trốn trại bị bắt lại và bị đánh đến chết;

68. Th/Úy Lưu Đức Sơn Khóa 28/TVBQGVN-Ra tù tham gia phong trào Phục Quốc, bị bắt và kết án 8 năm tù, rồi vượt trại và bị cộng sản bắn chết trên đường vượt sông Đại B́nh ở Bảo Lộc ;

69. Th/Úy Trần Hữu Sơn Khóa 28/TVBQGVN - Bị đánh cho tới chết v́ hô "Đả Đảo cs" tại trại tù B́nh Điền, Huế;

70. Th/Úy Phạm văn Bê Khóa 28/TVBQGVN-Mất tích trên đường vượt tù trại  Đồng Ban, Tây Ninh năm 1977;

71. Th/Úy Trần Văn Danh Khóa 28/TVBQGVN-Mất tích trên đường vượt tù cs, trại  tù Đồng Ban, Tây Ninh năm 1977;

72. Th/Úy Trần Hữu Được (LĐ81/BCND) Khóa 28/TVBQGVN- Mất tích trên đường vượt tù cs  trại  tù Đồng Ban, Tây Ninh năm 1977;

73. Th/Úy Nguyễn Văn Chọn Khóa 28/TVBQGVN-Mất tích trên đường vượt tù cs, trại  tù Đồng Ban, Tây Ninh năm 1977;

74. Th/Úy Nguyễn Văn Sáng Khóa 28/TVBQGVN-Mất tích trên đường vượt tù cs, trại  tù Đồng Ban, Tây Ninh năm 1977;

75. Th/Úy Dương Hợp (LĐ81/BCND) Khóa 28/TVBQGVN-Mất tích trên đường vượt tù CS, trại Đồng Ban - Tây Ninh năm 1977.

76. Th/Úy Nguyễn Gia Lê (LĐ81/BCND) Khóa 28/TVBQGVN Mất Tích trên đường vượt trại  tù  Bù Gia Mập,Phước Long năm 1978-1980;

77. Th/Úy Nguyễn Trần Bảo Khóa 28/TVBQGVN - Mất Tích trên đường vượt trại tù Bù Gia Gia Mập,Phước Long năm 1978-1980;

78. Th/Úy Nguyễn Quốc Việt Khóa 28/TVBQGVN- Mất tích trên đường vượt biên 1980;
79. Th/Úy Trương Như Phục Khóa 28/TVBQGVN-- Mất tích trên đường vượt biên 1980;
80. Th/Úy Trương Tráng Nguyên Khóa 29/TVBQGVN-Uống 16 viên thuốc ngủ tự vận chết tại trại tù Ấp Vàng, Sóc Trăng;

81. Th/Úy Hà Minh Tánh Khóa 29/TVBQGVN - Bị vc bắn chết trong tù Trảng Lớn, Tây Ninh;
82. Thiếu úy Nguyễn Huế K29/TVBQGVN- Mất tích năm 1977 sau khi trốn trạị;
83. Th/Uư Trương Đăng Hậu Cựu SVSQ//TVBQGVN-Tạ thế tại trại tù Hà Tây năm 1988;

4. Th/Tá Phan Ngọc Lương (SĐ1/BB) Cựu SVSQ//TVBQGVN-Tổ chức phục quốc bị tử h́nh  tại Chín Hầm, Huế năm 1979;

85. Đại/Úy Hoàng Trọng Khuê Vơ Bị Quốc Gia-Bị xử bắn tại Huế năm 1975;
86. Tr/Uư Nguyễn Ngọc Trụ (Giảng Viên) Văn Hóa Vụ /TVBQGVN-Bị xử bắn tại Trại An Dưỡng Biên Hóa năm 1977;

87. Tr/Úy Huỳnh Công Tiết (Giảng Viên) Văn Hóa Vụ /TVBQGVN-Mất tích trên đường vượt trại tù cs (trại Đồng Ban ,Tây Ninh năm 1977);

88. Tr/Úy Nguyễn Văn Chung HLV/TVBQGVN- Tạ thế tại Trại Tù Nghệ Tĩnh không rơ năm;
89. Thiếu Úy Trần Tăng Thành khóa 29 (cùng khóa với tôi) bị cs xử bắn tại Huế sau 30 tháng 4 năm 1975;

90. Trung tá Mai văn Em ( Tư ) khóa 13-Sau 75 trốn trong rừng được 2 năm, cs theo dơi bị bắt vượt ngục và bị bắn;

91. Trung úy Nguyễn Văn Hướng K24 VB , SĐ 3BB-Vượt traị cải tạo Cây Cầy A ,Tây Ninh cuối 1977, bị cs bắt và giết chết;

 92. Th/tá Phạm Văn Tư (Pḥng 2/TK Quảng tín) Khoá 19/TVBQGVN-Vuợt ngục (cùng Trẩn Văn Bé) 1976, bi bắn tại hàng rào trại Suối Máu rồi tử thương v́ không được chửa trị.
(Danh sách vẫn c̣n tiếp…)

Xin ghi thêm : 93. Trung Tá Nguyễn Đằng Tống, Khóa 16- Chết trong lao tù cs ( theo tài liệu [4]) .

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://tvbqgvn.org/ Sơ lược về trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam .

2.     https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa1phanboichau.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan- Khóa 1 - Phan Bội Châu, TVBQGVN - Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (K1) .

3.     https://www.vietnamvanhien.net/TruongVoBiQuocGiaVietNamTheoDongLichSu.pdf Đọc:Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trần Đan Hà .

4.     https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/k1660namnguyenducthu.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan - 60 Năm Hạ Sơn, Một Đời Để Nhớ -Nguyễn Đức Thu, CSVSQ K16/TVBQGVN - (Hoa Thịnh Đốn , 22-12-2022) .

5.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_V%C3%B5_b%E1%BB%8B_Qu%E1%BB%91c_gia_%C4%90%C3%A0_L%E1%BA%A1t Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt .

6.     https://tvbqgvn.org/tailieu/vobiquocgia/nguyenkyphong.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan-Một Tài Liệu về Trường Vơ Bị Quốc Gia và Các Sĩ Quan Tốt Nghiệp -Nguyễn Kỳ Phong .

7.     https://bienxua.wordpress.com/2016/08/09/viec-cong-nhan-van-bang-ky-su-va-cu-nhan-cua-truong-vo-bi-quoc-gia-vn/  Việc Công Nhận Văn Bằng Kỹ Sư và Cử Nhân của TVBQGVN - Giáo sư Lê Đ́nh Cai - (Sử Học, Văn Hóa Vụ)- Posted by bienxua on August 9, 2016 .

8.     http://nsvietnam.blogspot.com.au/2015/09/viec-cong-nhan-van-bang-ky-su-va-cu.html Việc công nhận văn bằng Kỹ Sư  và Cử Nhân của Trường Vơ Bị Quốc Gia VN- Giáo sư Lê Đ́nh Cai - (Sử Học, Văn Hóa Vụ) .

9.     https://vanhoavutvbqgvn.wordpress.com/ Giới Thiệu Văn Hoá Vụ -Dec29 .

10.  https://www.muctimsonden.com/2022/07/truong-lien-quan-vo-bi-lat.html Trường Liên Quân Vơ Bị Đà Lạt - Nguyễn Hoàng Sơn .

11.  https://tvbqgvn.org/tailieu/vobiquocgia/cacchihuytruong.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa - Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam - Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan- Các Chỉ Huy Trưởng Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam.

12.  https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975).

13.  https://vobidalatk26.blogspot.com/p/blog-page_12.html Khóa 26 Vơ Bị Đà Lạt - Đà Lạt Việt Nam, năm 1972 -Thiếu tá Dorsey Edward Rowe -Cố vấn Khối Quân Sự Vụ trường VBQG - Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam -Nguyên bản Anh ngữ của Dorsey Edward Rowe- Lê Bá Thông phiên dịch .

14.  https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa15svsq.htm  Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan -  Khóa 15 Lê Lợi .

15.  https://artcorner.vn/da-lat/ho-than-tho-da-lat-suong-mai/ Hồ Than Thở (Lake of Sighs)-1957.

16.  https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa16svsq.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan -  Khóa 16 .

17.  https://www.facebook.com/groups/3117304891656141/posts/24354115254215130/ Người Đà Lạt-Phung Ho.

18.  https://k25tvbqgvn.blogspot.com/2017/12/hon-muoi-nam-tai-truong-vo-bi-quoc-gia.html Sunday, December 3, 2017  Hơn mười năm tại Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam -Nguyễn Bùi Thức - Hồ Đắc Huân.

19.  https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa27svsq.htm Quân Lực Việt Nam Cộng

Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan-Khóa 27 SVSQ TVBQGVN.

20.  https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa26nguyenvietthanh.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan - Khoá 26 SVSQ TVBQGVN -Khoá Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh-Vơ Công Tiên - tháng 4/99 (Tŕnh bày: PhiYen26) .

21.  https://www.facebook.com/media/set/?set=a.144935142838760&type=3 Albums de Phóng Viên Chiến Trường - Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam- Lịch sử Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam .

22.  https://www.muctimsonden.com/2022/07/truong-lien-quan-vo-bi-lat.html Trường liên quân vơ bị Đà Lạt - Nguyễn Hoàng Sơn . 

23.  https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa20nct.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan - Khóa 20 Nguyễn Công Trứ, TVBQGVN-Hồ Đắc Huân- (VienDongDaily.Com - 02/09/2011) .

24.  https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/k16maitrungngoc.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan – Lư Tưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Viet54 Nam - Khóa 16 Vật Tế Thằn- Mai Trung Ngọc .

25.  https://www.saigonweeklyonline.com/lich-su-nnv/truong-vo-bi-quoc-gia-viet-nam-khoa-16-voi-6-dai-ta-11-trung-ta-oai-hung-cua-qlvnch.html - Khóa 16 - Hy Sinh 1, 2 năm đầu .

26.  https://dongsongcu.wordpress.com/2025/08/24/cuu-sinh-vien-si-quan-tran-van-gioi-ke-chuyen-quan-truong-vo-bi-bi-tan-cong/ Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trần Văn Giỏi kể chuyện quân trường Vơ Bị bị tấn công - Lâm Hoài Thạch- Posted on August 24, 2025 by dongsongcu .

27.  https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/cuu-svsq-tran-van-gioi-nho-ngay-hoc-khoa-26-truong-vo-bi/ Cựu SVSQ Trần Văn Giỏi nhớ ngày học Khóa 26 trường Vơ Bị - Lâm Hoài Thạch/Người Việt-August 30,2025.

28.  http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa-Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam - BĐQ Đỗ Như Quyên (BĐQ Charlie Brown Phuong).

29.  http://tqlcvn.org/thovan/van-ducmy-loluyenthep.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến-Dục Mỹ, Ḷ Luyện Thép-Trích hồi kư ‘’ Người Lính Tổng Trừ Bị’’-Giang Văn Nhân .

30.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .

31.  https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ - 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà - Posted on January 3, 2025 by dongsongcu 31/12/2024 – NVQ sưu tầm.

32.  Phạm Phong Dinh- Trang 52-53 -Chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Tủ Sách Vinh Danh-Tháng 8-2007 .

33.  https://linhvnch.wordpress.com/truong-si-quan-thu-duc/ Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa -  Trường Sĩ Quan Thủ Đức -Nguyễn Ngọc Thạch K20 (Sưu tầm: Lê Hiến, SVSQ Khóa 10, Liên Trường Vơ Bị Thủ Đức ).

34.  https://haisu.org/LuocSuTBB.htm Lược sử Trường Bộ Binh.

35.  http://batkhuat.net/tl-nhungngaicuoi-tbb.htm Những ngày cuối cùng của Trường Bộ Binh – Nguyễn Ngọc Thạch .

36.  Danh sách "Anh Hùng Tử Sĩ của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt NAM’’ Tuẩn Tiết-Bức Tử-Tử H́nh-Tạ Thế ,trong trại tù cộng sản sau 30 tháng tư năm 1975-CSVSQ Nguyễn Xuân Qúy, Khóa 31 sưu tầm .

 

2- Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa – Đồng Đế- Nha Trang

 

Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ,c̣n được gọi là Quân Trường Đồng Đế hay Ḷ Luyện Thép , tọa lạc tại Đồng Đế, Nha Trang , là hậu thân của Trường Biệt Động Đội (École de Commando),  sau đổi tên thành École De Commando et Éducation Physique,tiếp theo đó là Trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng ,tiếp nửa là Trường Hạ Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa và cuối cùng là Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Theo tài liệu  [1] :  Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa theo “hệ thống quân giai” trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn trong hệ thống điều hành tổng quát của Bộ Tổng Tham Mưu .

Theo tài liệu  [2] : Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tiếng Anh là  The School of the Non-commissioned officers of the Vietnam Military Forces, SNCOVNMF), hay Quân Trường Đồng Đế tiếng Anh là Dong De Military School, DDMS .

 

Sau đây là lược sử h́nh thành :

Theo tài liệu  [1] & [2] :

 Năm 1951, thời kỳ Quốc Gia Việt Nam (h́nh thành năm 1948) và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam  (h́nh thành năm 1950), một trường quân sự được thành lập tại Vạt Cháy (Băi Cháy) thuộc tỉnh Quảng Yên ,Bắc Việt, với nhiệm vụ ban đầu  là huấn luyện Biệt Động Đội và lấy tên là Trường Biệt Động Đội (École de Commando).

Theo tài liệu  [3] :

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chia đôi đất nước, hàng ngàn đồng bào người Bắc gốc Ba Làng,tỉnh Thanh Hóa (Bắc Việt)  trốn chạy cộng sản,  di cư vào Đồng Đế, làm ăn sinh sống,  rồi mau chóng xây dựng lên một làng đánh cá gọi tên là “Ba Làng” trên mảnh đất dài gần 1 cây số, rộng hơn 200 mét nằm về phía Đông của Đồng Đế sát bờ biển, từ đó Ba Làng thuộc lănh thổ Xă Vĩnh Hải, Quận Vĩnh Xương, Tỉnh Khánh Ḥa.

Tháng 8 năm 1954, sau ngày đ́nh chiến (Hiệp định Genève 20 tháng 7), Trường Biệt Động Đội (École De Commando) của quân đội Pháp từ Băi Cháy (Quảng Yên) di dời vào miền Nam tạm trú tại Suối Dầu (Khánh Ḥa) ,hợp nhất với trường Huấn Luyện Quân Sự Địa Phương Số 04 với nhiệm vụ huấn luyện lớp CC1 và CC2 ngành Bộ Binh .

( Chú thích :  Trong quân đội Pháp : CC1 : Caporal chef de première classe ;  CC2  est un grade de militaire du rang supérieur au caporal chef, mais inférieur au sergent .Vậy th́ CC1 là Hạ Sĩ và CC2 là Trung Sĩ ?) .

Đến đầu tháng 2 năm 1955 ,  Trường Biệt Động Đội  (École De Commando)  chuyển tiếp về Đồng Đế, đồn trú trong trại binh cũ của Pháp và cải danh là “École De Commando et Éducation Physique”.

Xin ghi thêm , theo tài liệu  [2] : Tháng 9 năm 1945, chính quyền tỉnh Khánh Ḥa   thành lập Trường huấn luyện quân sự Đồng Đế do Hà Văn Lâu làm Hiệu trưởng . Khi quân Pháp tấn công Khánh Ḥa, trường này ngừng hoạt động. Không biết Trường này có  liên hệ ǵ với École De Commando et Éducation Physique  v́  hai trường này cùng tọa lạc tại Đồng Đế ?).

(Chú thích :

·        Vào năm này, tên hcm , đại tội đồ của dân Việt, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (cộng sản) ;

·        Hà Văn Lâu là một tên cán bộ cao cấp cộng sản Hà Nội).

 

Giữa năm 1955,  Trường École De Commando et Éducation Physique  di chuyển về Phú Xương, Đồng Đế, Nha Trang ,rồi chuyển giao cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam do Thiếu Tá Lê Cầm tiếp nhận chỉ huy đầu tiên và ngay sau đó đổi tên là “Trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng”, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Do đó quân trường này xem như được thành lập kể từ tháng 2 năm 1955 tại Đồng Đế, thị xă Nha Trang, tỉnh Khánh Ḥa.

Nhưng theo tài liệu  [4] :  

Trường Huấn Luyện Biệt Động Đội ở Đồng Đế (École de Commando)  là một doanh trại của Pháp, nơi đây có Trường Huấn Luyện Biệt Kích Quân  và một đơn vị có tên “Lực Lượng Biệt Kích Không Vận Hỗn Hợp” (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés – Joint Aeroports Commando Forces).

Sau khi rời Việt Nam, Pháp bàn giao doanh trại này  (École de Commando) vào ngày 24 tháng 02 năm 1956, sau đó được Bộ Tổng Tham Mưu cho đổi tên thành Trường Huấn Luyện Thể Dục Quân Sự Đinh Tiên Hoàng.

Tới tháng 6 năm 1957, nơi đây lại đổi tên là Trường Huấn Luyện Biệt Động Đội Đinh Tiên Hoàng, rồi chính thức đổi thành Trường Hạ Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa vào tháng 11 năm 1957.

Tiếp đến đầu năm 1956, Đại Tá Trần Vĩnh Đắc được cử về thay thế Thiếu Tá Lê Cầm và một năm sau Đại Tá Nguyễn Thế Như, Tư Lệnh Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng Thống được bổ nhiệm thay thế Đại Tá Trần Vĩnh Đắc trong Chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng, đồng thời một loạt Sĩ Quan vừa tốt nghiệp các khóa quân sự ở Hoa kỳ, Okinawa (Nhật bản) và Mă Lai v.v. được thuyên chuyển về trường.

Đến đầu tháng 2 năm 1957, Bộ Tổng Tham Mưu quyết định đổi tên Trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng thành “Trường Hạ Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa” để thích hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ mới.

Năm 1965 , Trường Hạ Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa đổi tên là Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

 

thasiquan

Cổng Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Theo tài liệu  [2] :  Bài ca chính thức Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là bài Thao Trường Hành Khúc sáng tác bởi Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng .

Dưới đây là lời bài ca  Thao Trường Hành Khúc trích từ tài liệu [5] :

 

Một hai ba bốn... một hai ba bốn
Đây khúc ca vang lên nơi thao trường đầy hào hùng
Vai ghé vai ta đua tài trong t́nh thân ái
Đường c̣n dài nhưng chân cứng đá mềm
Thao trường đổ mồ hôi
Thao trường đổ mồ hôi
Chiến trường bớt đổ máu
Chiến trường bớt đổ máu
Bước bước bước chân hăng say
Ta thi gan cùng nhọc nhằn
Làm rạng người với gịng xương trắng máu hồng
Thao trường đổ mồ hôi
Thao trường đổ mồ hôi
Chiến trường bớt đổ máu
Chiến trường bớt đổ máu
Cố lên cố lên dù nhọc nhằn
Da chan mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh
Anh em ơi
Đem sức trai nêu chí hùng lưu tiếng ngàn thu
Anh em ơi
Ta quyết thề đem mồ hôi rủa sạch hận thù
Thao trường đổ mồ hôi
Thao trường đổ mồ hôi
Chiến trường bớt đổ máu
Chiến trường bớt đổ máu
Cố lên cố lên dù nhọc nhằn
Da chan mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh
Một hai ba bốn... một hai ba bốn

(Xem thêm tiểu sử Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng trong Phụ đề)

 

Theo tài liệu  [3] : Trước năm 1955, chẳng mấy ai biết đến vùng đất Đồng Đế, nhưng từ khi có một làng đánh cá của dân di cư và một trường Vơ Bị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được thiết lập tại đây đó là Trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng sau cải danh thành Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa th́ Đồng Đế được hầu hết dân chúng địa phương thị xă Nha Trang, tỉnh Khánh Ḥa biết đến, và chỉ 2 năm sau vùng đất Đồng Đế đă hoàn toàn thay da đổi thịt, dọc theo hai bên con đường phía trước Trựng Hạ Sĩ Quan Đồng Đế nối liền từ Quốc lộ 1 hướng Tây ra đến tận bờ biển giáp giới với đường Ba Làng dài trên 1 cây số gọi tên là đường Đồng Đế bỗng biến thành một khu phố đông đúc tấp nập, nhà cửa dựng lên san sát, dân cư phần đông là đồng bào địa phương Nha Trang, Khánh Ḥa đổ về, một phần là thân nhân gia đ́nh của các quân nhân đang phục vụ ở Trường Hạ Sĩ Quan  Đồng Đế từ các nơi đến cư ngụ làm ăn sinh sống. Đồng bào ở đây gọi Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là “Trường Đồng Đế Nha Trang” hoặc “Quân Trường Đồng Đế” để thay thế cho cụm từ xưng danh của trường quá dài. Tên gọi Quân Trựng Đồng Đế dần dà đă trở thành quen thuộc đối với dân chúng và các đơn vị quân đội địa phương đồn trú tại vùng đất Nha Trang, Khánh Ḥa.

Theo tài liệu [6] :  Quân Trường Đồng Đế, đây là một trong những quân trường nổi tiếng tại Nha Trang. Trường tọa lạc cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5 cây số về phía Bắc, dưới chân núi Ḥn Khô, có những mái nhà tôn ẩn hiện dưới hàng dương liễu, báo hiệu nơi đây có sức sống mănh liệt của dân cư đến sinh sống. Bởi v́ nơi đây tập trung nhiều khóa sinh hạ sĩ quan và sĩ quan của nhiều quân, binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Sau đây là quá tŕnh 20 năm của quân trường Đồng Đế ,theo tài liệu [3] :

1.     Giai đoạn mới thành lập :

 • Xây dựng doanh trại cơ sở, tiện nghi huấn luyện, bổ xung Sĩ quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ, mở các lớp huấn luyện Biệt Động Đội, Thể Dục, Vơ Thuật, Cận Chiến ;
• Cấp chứng chỉ B1, B2 cho Hạ Sĩ Quan, tu nghiệp Hạ Sĩ Quan chính quy và Hạ Sĩ Quan các giáo phái B́nh Xuyên, Cao Đài, Ḥa Hảo mới được sát nhập vào hàng ngũ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ;

• Đào tạo Hạ Sĩ Quan huấn luyện chiến tranh đặc biệt cho Liên Đoàn 77/Lực Lượng Đặc Biệt;
• Cuối năm 1958, huấn luyện Biệt Động Quân song song với Trung Tâm Huấn Luyện Sông Mao và Đà Nẵng trong khi chờ đợi Trung Tâm Huấn Luyện  Dục Mỹ được thành lập.

Theo tài liệu  [4] : ChỈ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện   Biệt Động Quân ở Đồng Đế là Thiếu Tá Đặng Văn Sơn;

Các cố vấn huấn luyện của Trung Tâm gồm có  :

Đại Úy Raymond L. Call :  Trưởng toán;

Đại Úy Jamie R. Hendrix : Phó toán;

Đại Úy George E. Carr;

Trung Úy Ronald K. Summers;

Thượng Sĩ Jacques A. Standing;

Thượng Sĩ Gregory A. Mattep : Y tá;

Thượng Sĩ Howard Kristofferson;

Trung Sĩ Virgil Murphy : Công binh;

Trung Sĩ Robert G. Grisham;

Thiếu tá  Marcott : Quân báo;

Đại Úy McConnanghey : Tâm lư chiến.

Ngày 01 tháng 8 năm 1961, một Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân quy mô hơn được thành lập ở Dục Mỹ. Cùng lúc đó, Trung Tâm Huấn Luyện   Biệt Động Quân Đồng Đế được giải tán để sáp nhập vào trung tâm chính ở Dục Mỹ.

 

• Huấn luyện căn bản quân sự cho các sinh viên sĩ quan Hải Quân, Không Quân

Hơn nửa , theo tài liệu [1] & [2] :

Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1958, Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đảm nhận huấn luyện các khoá  :

 Biệt Động Đội;

 Thám Báo;

 Phản Du Kich;

Thể Dục Quân Sự;

Quyền Thuật & Nhu Đạo;

Quân Y Dược Sỉ;

Liên Đoàn Đặc Biệt .

2.     Giai đoạn Huấn Luyện Đặc Biệt :

Đầu năm 1959, chương tŕnh huấn luyến Biệt Động Đội và Thể Dục cũng như việc huấn luyện tu nghiệp cho Hạ Sĩ Quan các giáo phái hoàn tất .

Trung Tá Đoàn Văn Quảng thuộc binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt được cử về Chỉ Huy Trường Đồng Đế thay thế Trung Tá Nguyễn Thế Như trong giai đoạn trường chuyển ḿnh bước sang giai đoạn và nhiệm vụ mới : Chỉnh trang, xây dựng, mở thêm doanh trại, chuẩn bị những nhu cầu, phương tiện cần thiết để nhận trách nhiệm mở các khóa huấn luyện đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch Đặc biệt theo chỉ thị của Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm sau đợt Tổng Thống đến thăm các Quân Đoàn, Vùng Chiến Thuật, các Quân Trường như Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, Trường Vơ Bị Đà Lạt, Thủ Đức, Trường Quân Y, v.v.

Theo tài liệu [2] : Khóa sinh  các khóa Sĩ Quan Hiện Dịch Đặc biệt là những hạ sĩ quan xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân, là những hạ sĩ quan xuất sắc hoặc thâm niên trong quân đội, có tŕnh độ văn hóa từ trung học trở lên, thâm niên cấp bậc tối thiểu 2 năm, tác phong hạnh kiểm tốt, có kinh nghiệm chiến trường và phải qua một cuộc thi sát hạch văn hóa do Bộ Tổng tham mưu tổ chức. Tốt nghiệp được mang cấp bậc Chuẩn Úy;

Theo tài liệu [3] : Khóa 1 Sĩ Quan Hiện Dịch Đặc Biệt đầu tiên khai giảng có sỉ số 329 sinh viên sĩ quan . Chương tŕnh huấn luyện gồm 9 tháng học quân sự tại trường và 3 tháng thực tập tại các đơn vị tác chiến chuyên môn như Pháo Binh, Công Binh, Thiết Giáp, Truyền Tin, v.v. rồi trở về trường thi trắc nghiệm cuối khóa. Sau 13 tháng tôi luyện vơ nghiệp, có 329/350 sinh viên sĩ quan tốt nghiệp. Lễ Măn Khóa 1 Sĩ Quan Hiện Dịch Đặc Biệt được tổ chức trọng thể tại Trường Đồng Đế vào sáng ngày 23 tháng 7 năm 1960 dưới sự chủ tọa của ông Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng và Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng đại diện cho Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa.

Sau khi thực hiện thành công tốt đẹp nhiệm vụ huấn huấn luyện cho Khóa 1 Sĩ Quan Hiện Dịch  Đặc Biệt được đánh giá là rất thành công, Quân Trường Đồng Đế một lần nữa được giao trách nhiệm tổ chức mở tiếp các Khóa 2, 3 và 4 Sĩ Quan Hiện Dịch trong 3 năm liền 1961, 1962 và 1963 : Mỗi khóa với sỉ số trên dưới 500 sinh viên sĩ quan . Riêng Khóa 3 và 4 có hơn 100 sinh viên đă tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh được chính phủ gởi ra trường Đồng Đế theo học chung với các sinh viên sĩ quan  Hiện Dịch để sau khi măn khóa Sĩ Quan sẽ được bổ nhiệm giữ các chức vụ hành chánh tại các địa phương và trung ương như Quận Trưởng, Phó Tỉnh Trưởng, Chủ Sự, Giám Đốc, v.v. Sau khi chấm dứt việc huấn luyện Sĩ Quan Hiện Dịch vào cuối năm 1963, trường Đồng Đế lại tiếp tục gia tăng việc huấn luyện đào tạo Hạ Sĩ Quan cho đến đầu năm 1968.

Sau đây là kư ức về  Khóa 2  Sĩ Quan Hiện Dịch  Đặc Biệt  kể lại bởi một cựu khóa sinh  ông Hồ Đắc Huân (tài liệu [6])  :

‘’ Ông Hồ Đắc Huân nhập ngũ ngày 01 tháng 8 năm 1956. Đến ngày 27 tháng 02 năm 1961 được tham dự Khóa 2 Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) Hiện Dịch Đặc Biệt Nha Trang, và ra trường ngày 31 Tháng Giêng, 1962.

Trước ngày khai giảng khóa học một tuần, Tiểu Đoàn 2 Khóa Sinh, trong đó có tân khóa sinh Hồ Đắc Huân phải làm thủ tục nhập khóa, gồm có : Phân chia trung đội, đại đội, lănh quân trang, nhận danh số, may bảng tên, nơi cư trú, và được nhân viên quân trường hướng dẫn những tiện nghi của quân trường. Rồi chuẩn bị làm lễ khai giảng khóa học vào ngày 27 tháng 02 năm 1961. Số khóa sinh của khóa này khoảng 550 SVSQ. Danh xưng của khóa là Nhân Vị.

Vị chỉ huy trưởng của Quân Trường Đồng Đế lúc đó là Đại Tá Đặng Văn Sơn, trong sáu tháng đầu của khóa học. Sau đó là Đại Tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy trưởng Quân Trường Đồng Đế đến cuối Khóa 2 Nhân Vị.

Lễ khai giảng khóa học :

Sáng thứ Hai ngày  27 tháng Giêng (02 ?) năm 1961, buổi lễ khai giảng được tổ chức trọng thể tại sân cờ của Quân Trường Đồng Đế, dưới quyền chủ tọa của Đại Tá Đặng Văn Sơn, chỉ huy trưởng, cùng sự tham dự của toàn thể sĩ quan cán bộ, huấn luyện viên và quân nhân cơ hữu các cấp của trường, cùng các đơn vị khóa sinh khác.

Từ ngày nhập trường, các khóa sinh phải chịu mọi thử thách trong thời gian tám (8) tuần lễ huấn nhục. Ai từng là tân khóa sinh th́ không bao giờ quên được những chịu đựng gian khổ trong tất cả mọi hoàn cảnh để quên đi bao nhiêu điều phi lư. Những h́nh phạt tập thể hay phạt dă chiến cá nhân hằng đêm, để tạo cho các tân khóa sinh quen sự chịu đựng, tháo vát, nhạy bén để thích ứng trong việc học ở giai đoạn hai, cũng như khi ra trường chỉ huy trung đội.

Tôi c̣n nhớ rơ, ngay từ giờ đầu tiên, toàn thể tân khóa sinh chúng tôi vừa mới tŕnh diện quân trường, th́ phải chịu h́nh phạt ‘thử lửa’ là chạy sáu (6) ṿng sân chung quanh vũ đ́nh trường. Rồi trong số chúng tôi có người ‘bị xui’ phải chịu phạt 50 cái ‘hít đất’ hoặc 50 cái ‘nhảy xổm,’ bởi v́ khi tập họp c̣n ồn ào, hoặc trả lời không lớn tiếng khi được gọi đến tên ḿnh. Và cũng từ giây phút này, danh từ ‘tân khóa sinh’ được áp dụng vào chương tŕnh tám tuần lễ huấn nhục đầu tiên.

Trong tám tuần đầu chúng tôi được học về nội quy, quân kỹ, cơ bản thao diễn, cận chiến, tháo ráp lau chùi vũ khí, di chuyển đoạn đường chiến binh, học về tác xạ các loại súng Garant M1, Carbine M2, Colt 45, Tiểu Liên 60… Về môn Địa H́nh, bài học đầu tiên là ‘Sự lợi ích cần thiết quan trọng của môn Địa H́nh trong sinh hoạt quân đội.’ Rồi đến bài ‘T́m phương hướng, địa bàn…’ Huấn luyện viên dạy các môn này là các Trung Úy Nguyễn Mạnh Tiên, Lâm Văn Do, Lê Lương Thủy và Chuẩn Úy Trần Phi Kinh .

Trong giai đoạn này, môn học nhiều nhất là “Chiến thuật cá nhân”.  Bài học đầu tiên là ngụy trang ngày và đêm, rồi học lần đến quan sát, ẩn nấp và che giấu, di chuyển trên mọi địa thế. Ngoài ra, các khóa sinh c̣n được học cách di chuyển tổ tam chế, kỹ thuật vượt sông, tiến dưới hỏa lực, ḍ t́m mục tiêu, mưu sinh thoát hiểm, và cũng có học thêm về chiến thuật của địch quân.

Trước năm 1975, đa số các quân trường hay trung tâm huấn luyện của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, các khóa sinh đều phải nằm ḷng khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.” Tại Quân Trường Đồng Đế, những SVSQ khóa sinh đều phải nghe lệnh của các huấn luyện viên, lúc thực tập những bài chiến đấu tại băi chiến thuật, với tiếng hô “Sát, Sát!” qua những hiệu lệnh của những màn khói trắng, đỏ, xanh, tím, vàng…’’.

Aucune description de photo disponible.

Đi dây tử thần-H́nh trích từ tài liệu [7] 

 

 

 

Tiến lên dưới hỏa lực -H́nh trích từ tài liệu [7] 

 

Aucune description de photo disponible.

 

Ḅ dưới hỏa lực-H́nh trích từ tài liệu [7] 

 

Aucune description de photo disponible.

Vượt sông-H́nh trích từ tài liệu [7] 

 

Aucune description de photo disponible.

Hành quân qua sông - H́nh trích từ tài liệu [7] 

 

Theo tài liệu  [2] :  Khẩu hiệu của Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa là  : Luyện Tập Để Thắng.

 

Huy hiệu Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế-H́nh trích từ tài liệu  [1] & [2] 

 

Về đêm, ngoài tiếng súng nổ và những ánh sáng lân tinh, c̣n có những ‘đóm mắt hỏa châu’ lơ lửng bừng sáng cả một góc trời. Đó là những nét tiêu biểu sống động trong các phương pháp huấn luyện quân sự một thời của các cựu SVSQ của chúng tôi trong các ngành nghề quân sự của Quân Lực VNCH tại các quân trường Nha Trang, Khánh Ḥa.

Lễ gắn Alpha :

Theo truyền thống của Khóa 1 đàn anh, sau khi trải qua tám tuần lễ huấn nhục, và họ đă chinh phục đỉnh núi Ḥn Khô, th́ cũng trong đêm đó, quân trường phải tổ chức lễ gắn Alpha cho các SVSQ này.

Nhưng với Khóa 2 Nhân Vị, v́ nhu cầu công tác phải lên đường về thủ đô Sài G̣n ngay, để đảm trách nhiệm giữ an ninh cho Biệt Khu Thủ Đô và Tiểu Khu Gia Định cho việc tổ chức bầu cử tổng thống trong nhiệm kỳ giữa Tổng Thống đang nhiệm Ngô Đ́nh Diệm và ứng cử viên Hồ Nhật Tân vào đầu năm 1961, nên lễ gắn Alpha được tổ chức gấp rút tại sân cờ trường trong một chiều đầy nắng ấm.

Ông Hồ Đắc Huân nhớ lại: “Alpha vàng nền đỏ được gắn trên ngực áo trận của chúng tôi. Sau lễ gắn Alpha, các tân khóa sinh thở phào nhẹ nhơm, v́ đoạn đường gai góc huấn nhục đă đi qua. Chúng tôi đă chính thức được trở thành SVSQ, và những giờ phép cuối tuần đă đến chúng tôi kể từ hôm đó.”

Những thứ Bảy và Chủ Nhật, các SVSQ bắt đầu hưởng những giờ phép đầu tiên để viếng thăm thành phố Nha Trang. Với quân phục dạo phố, SVSQ gắn lon Alpha vàng với nền cấp hiệu đỏ c̣n được mang trên vai trái dây biểu chương màu Anh Dũng Bội Tinh.

Riêng các SVSQ gốc Quốc Gia Hành Chánh c̣n được mang trên tay trái một dấu hiệu bằng vải với hàng chữ Quốc Gia Hành Chánh để phân biệt với các SVSQ của quân đội.

Theo tài liệu [1] & [2] :

Nhiệm vụ của rường Hạ Sĩ Quan từ năm 1959 tới năm 1963 huấn luyện :

Ø  Bốn (4) khoá Sĩ Quan Hiện Dịch  Đặc Biệt : Như đă  tŕnh bày ở trên ;

Ø  Các khóa đào tạo Hạ Sĩ Quan Trừ Bị : Khoá sinh là những thanh niên dân chính đến tuổi động viên quân dịch có văn bằng phổ thông từ Trung Học Đệ Nhất Cấp trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. Trong đó c̣n đào tạo những khoá sinh từ trường Thiếu Sinh Quân không theo được Trung Học Đệ Nhị Cấp, tuy nhiên những hạ sĩ quan Thiếu Sinh Quân này vẫn hưởng quy chế hiện dịch (quân nhân chuyên nghiệp). Tốt nghiệp được mang cấp bậc Trung Sĩ ;

Các khoá hạ sĩ quan trừ bị là mục tiêu đào tạo chính của Trường, nên năm nào cũng có ít nhất 4 khoá khai giảng và nhập học, có năm lên tới 7 khoá. Có những năm Tổng Cục Quân Huấn phải chuyển qua các Quân Trường Quang Trung và Quân trường Lam Sơn.

Ø  Các khoá Hạ Sĩ Quan Đặc Biệt : Khóa sinh là những quân nhân thuộc "hàng binh sĩ" (Hàng Binh sĩ trong Quân lực VNCH được tính từ cấp bậc Binh Nh́ đến Hạ Sĩ Nhất), đă có cấp bậc Hạ Sĩ, Hạ Sĩ Nhất và là quân nhân xuất sắc hoặc thâm niên trong quân đội. Tốt nghiệp được mang cấp bậc Trung Sĩ .

 

Theo tài liệu  [2] :  Trường Hạ sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă tổ chức các khóa học như sau :

 -Tên khóa học được đặt theo số thứ tự trên năm : Thí dụ : Các khóa học của năm 1968 được đặt tên: Khóa 1/68 cho đến khóa cuối của năm. Sang năm 1969 trở lại từ khóa 1/69...
-Tên và bảng màu (tượng trưng ) cho từng Tiểu đoàn khóa sinh :

1.     Tiểu đoàn Trần Hưng Đạo (máu nâu);

2.     Tiễu đoàn Đinh Tiên Hoàng (máu xanh ngọc);

3.     Tiễu đoàn Lư Thường Kiệt (máu xanh vàng);

4.     Tiễu đoàn Lê Lợi (máu xanh dương);

5.     Tiễu đoàn Phan Đ́nh Phùng (máu xanh lá mạ);

6.     Tiễu đoàn Quang Trung  (máu đỏ);

-Đại đội khóa sinh :

 -Mỗi khóa học khi khai giảng, tùy vào số khóa sinh nhiều hay ít, có thể tập hợp thành Tiểu đoàn từ 2 đến 5 Đại đội (mỗi Đại đội từ 100 đến 120 khóa sinh). Tên của Đại đội được đặt theo số thứ tự từ hàng đơn vị cho đến hàng chục, hàng trăm. Thí dụ: Đại đội 707, Tiểu đoàn Phan Đ́nh Phùng thuộc khóa 3/72;

-Kể từ năm đầu tiên cho đến năm 1975, Trường Hạ sĩ quan đă huấn luyện và đào tạo được hơn 800 Đại đội .

3 . Giai đoạn đặc biệt khẩn trương :

Sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của việt cộng, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa ban hành lệnh tổng động viên đối với các thanh niên trong hạn tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự có văn bằng Tú Tài 1 trở lên, có sức khỏe tốt tŕnh diện nhập ngũ, theo học các Khóa Sĩ Quan Trừ Bị. Trước t́nh h́nh khẩn trương của đất nước, Trường Đồng Đế được giao trọng trách mở các khóa huấn luyện Sĩ Quan Trừ Bị song song phụ lực với Trường Sĩ Quan Thủ Đức  (khoá sinh là những học sinh hoặc sinh viên khi tŕnh diện nhập ngũ phải có văn bằng từ Tú Tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương).

Tài liệu  [6] cũng viết tương tự như trên :  Điểm chính của quân trường này là để đào luyện các khóa sinh hạ sĩ quan, nhưng v́ nhu cầu cần thiết của quân đội, nên ngôi trường này cũng đào tạo các SVSQ đến từ Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức và những những SVSQ đặc biệt khác.

Hơn thế nửa, trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế  c̣n phải cáng đáng nhận lảnh thêm vài nhiệm vụ đặc biệt huấn luyện các khóa sinh không đủ điểm lên lớp của trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam  và trường Bộ Binh Thủ Đức. Dưới đây là hai trường hợp :

1-Theo tài liệu [8]  và [9]   :  52 sinh viên trên tổng số 326 của Khóa 16  trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam  (vào Trường năm 1959)   bị loại ra khỏi Trường v́ không đủ điểm lên lớp trong chương tŕnh văn hóa. Cuối năm Thứ Nhất, sau các cuộc khảo hạch, th́nh ĺnh ngang xương có quyết định dáng xuống:  Ai có điểm Văn Hóa dưới 8 điểm bị cho ra trường ngay, 9 điểm được "khoan hồng" cho theo học lại Khóa 17, không cho lấy điểm Quân sự bù vào. Chuyện rất vô lư, nhưng 52 SVSQ/K16 đă phải ra trường sớm, mà oái oăm hơn nữa là với cấp Trung Sĩ,sau này đều tiếp tục thụ huấn ở trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế ở Nha Trang để trở thành các Chuẩn Úy hiện dịch . (Xem thêm chi tiết trong bài  Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam của cùng tác giả) .

2-Theo tài liệu [10] : ‘’Với cường độ ác liệt của chiến tranh, lệnh tổng động viên được ban hành và hầu như mỗi tháng trường Bộ Binh Thủ Đức đều có một khóa sĩ quan trừ bị. Lối huấn luyện sĩ quan trừ bị cũng thay đổi. Thay v́ vào thẳng trường Bộ Binh Thủ Đức, các khóa sinh phải học giai đoạn 1 cơ bản quân sự 9 tuần như một người lính tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rồi mới được chuyển lên trường Bộ Binh Thủ Đức học giai đoạn 2.

Các khóa sinh đậu giai đoạn 1  được qua gia đoạn 2 ở Trường Bộ Binh Thủ Đức để học sĩ quan . Những khóa sinh c̣n lại được chuyển qua trường Đồng Đế ở Nha Trang và  được phân phối thành 5 đại đội : Đại đội 334 học khóa hạ sĩ quan, 4 đại đội cón lại là 335, 336, 337 và 338 học khóa sĩ quan. Khóa 2/68 sĩ quan trừ bị Đồng Đế măn khóa tháng 11 năm 1968 ‘’. (Xem thêm chi tiết trong bài Trường Bộ Binh Thủ Đức của cùng tác giả) .

 

Xin ghi thêm một hồi kư về  Trường Đồng Đế-Nha Trang trích từ tài liệu [11] :

Tác giả tài liệu này nhập ngũ năm 1972.Sau khi hoàn tất kḥa huần luyện giai đoạn 1 Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan  tại  Trung Tâm Huần Luyện Quang Trung  ,ông ta  được lệnh thu xếp quân trang, sang Trại Chuyển Tiếp để chờ đi quân trường khác thụ huấn tiếp giai đoạn 2.

Vào thời điểm đó, Quân Trường Vơ Bị Thủ Đức chật nức, không c̣n đủ chỗ chứa nữa. Tổng Cục Huân Huấn phải mượn đỡ trường ĐồngĐế - Nha Trang (Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế) để huấn luyện sĩ quan. 

 

Trường Đồng Đế-Nha Trang

‘’Tiểu Đoàn của chúng tôi được chỉ định đi đến trường Đồng Đế-Nha Trang.

 Chúng tôi được cấp phát cho mỗi đứa một ổ bánh ḿ dài độ 1’-0”  (125 ly-millimètre) và 2 hộp cá ṃi Sumaco để chuẩn bị lên đường. Đứa nào cũng hứng đầy bi đông nước và khệ nệ đeo trên vai ba lô, tay sách sacmaren (sách tay) nặng trĩu. Sau khi được các sĩ quan cán bộ từ quân trường Đồng Đế dặn ḍ mọi chi tiết, chúng tôi bước lên những chiếc xe GMC đậu chờ sẵn. Đoàn xe lăn bánh rời khỏi TTHL Quang Trung vào khoảng 9 giờ sáng hôm đó theo ngả xa lộ Đại Hàn, ra xa lộ Biên Ḥa rồi trực chỉ Quốc lộ 1. Có lính vỏ trang theo hộ tống và tôi nh́n thấy phi cơ L-19 thỉnh thoảng xuất hiện bay quần trên bầu trời để bảo vệ an ninh.

Đoàn xe đi xuyên qua các tỉnh Phan Thiết, tôi ngửi được mùi nước mắm thơm phức từ những vựa nước mắn nằm dọc theo hai bên quốc lộ; rồi đi qua địa phận các tỉnh Phan Rang, Phan Rí, nắng như lửa đốt. Đoàn xe đi chậm lại khi đi ngang xuyên qua phố xá. Nh́n những người dân địa phương đang đi bộ trên đường bị ảnh hưởng khí hậu khắc nghiệt, người nào mặt mày cũng hóc hác, da đen thui đen thủi, tóc le hoe ..

Quốc lộ 1 có một khoảng đi cặp sát theo bờ biển, một bên là núi đá. Gió biển thổi vào mát rượi, có lẫn mùi muối hăng hắc .

Đoàn xe dừng lại ở một khoảng quốc lộ cạnh bờ biển, chúng tôi được phép rời xe 15 phút để..”xă nước” và vương vai hít thở vài cái cho thoải mái, xong lên xe tiếp tục cuộc hành tŕnh.

Gần xế chiều, chúng tôi đến điạ phận Cam Ranh có bải cát trắng tinh bao bọc những hàng dừa xanh lả lơi thơ mộng. Tôi mải mê nh́n ngắm những vẻ đẹp thiên nhiên của trời đất miền thùy dương mà đă nhiều lần nghe nói đến, nhưng giờ mới được diện kiến.

Xe đi khoảng hơn một giờ sau th́ vào đến thành phố biển Nha Trang. Đoàn xe vẫn đi trên Quốc lộ 1, xuyên qua phố xá một đoạn, qua cầu Xóm Bóng độ hơn nửa giờ th́ dừng lại ở trại Tiếp Nhận trường Đồng Đế-Nha Trang, nằm dưới chân đèo Rù Ŕ.

Ở Trại Tiếp nhận 3 tuần lễ, chờ sắp xếp để đưa sang quân trường Đồng Đế.

Trại Tiếp Nhận trường Đồng Đế không lớn bằng trại Tiếp Nhận quân trường Quang Trung. Chỉ có 6 cái barrack nằm song song, mỗi bên 3 cái. Ở giữa là sân rộng, có một nhà tiền chế cho toán kiểm sóat cổng ra vào trại. Cuối sân là dẫy nhà dùng làm văn pḥng cho cán bộ phụ trách. Trại Tiếp Nhận nằm trơ trọi dưới chân đồi, không một bóng cây. Ban ngày, nắng rọi vào mái tôn, nóng hừng hực như lửa đốt, chúng tôi phải ra đứng bên hiên nhà đế t́m chút gió thoảng.

Cán bộ trại cắt cử cho chúng tôi làm tạp dịch chung quanh doanh trại. Tối lại th́ tập họp, tất cả ngồi bẹp xuống mặt đất cát, sỏi để nghe các cán bộ hướng dẫn nầy nọ và thỉnh thoảng coi văn nghệ “tài tử” tự nguyện của các Khóa Sinh chúng tôi hát cho nhau nghe đỡ buồn.

Khoá Sinh không được phép rời khỏi khu vực trại Tiếp Nhận. Mỗi ngày có xe kéo bồn chứa nước đến vào buối sáng. Khoảng hơn 11 giờ sáng và 5 giờ chiều mỗi ngày, xe nhà Bàn chở thức ăn đến. Ăn cơm với cá biển kho, mùi cá tanh không chịu nỗi. Lính “công tử” nào nuốt không vô th́ đă có các ông cán bộ và lính phục vụ nhà Bàn có mang theo thức ăn “khá hơn” để bán lấy tiền. Trời trưa nắng gắt, các ông cũng ngụy trang kín đáo mang đến cà phê đá, trà đá, lén lút bán cho các Khóa Sinh. Đứa nào muốn mua ǵ ǵ khác, có thể nhờ các ông cán bộ nhà Bàn làm trung gian mua dùm, tính giá “văn nghệ” thôi.

Hằng ngày, kẻng đánh báo thức 6 giờ sáng, thức dậy ra sân tập thể dục, xong đánh răng rửa mặt, chia công tác, dùng cái rà-mèn đựng cơm ăn “chà láng” giao thông hào chung quanh trại. Nếu không có thêm công tác ǵ th́ ngồi tán dóc, kể chuyện trời trăng mây nước, hoặc đọc sách, viết thư trong lúc chờ xe nhà Bàn đến lảnh cơm ăn.

Hơn một tuần lễ, từ quân trường Quang Trung, anh em đă phóng thư đi , giờ đă có thư lại. Thư từ Quang Trung được chuyển ra ngày nào cũng đầy ấp cả bao “chỉ xanh”  loại lớn. Khoái nhất là mỗi ngày ngồi chờ cho ông Bưu tín viên (Mail man) của trại vác cái bao to tổ bố đứng giữa sân đọc tên. Chờ cho ông ta đọc trúng cái tên cúng cơm của ḿnh, ra lảnh thư, hối hả mở ra xem. Có anh th́ ra giao thông hào, ngồi trầm ngâm đọc thư, có anh nằm xấp trên giường ngủ đọc thư, có anh ngồi dựa lưng vào vách hè barrack đọc thư…Tôi nhận được vài lá thư từ Sàig̣n gởi ra, mừng và cảm thấy được an ủi vô cùng giữa  khung cảnh đồi núi sỏi đá nắng cháy da. Những ḍng chữ thắm đượm nồng nàng t́nh cảm chan chứa của người hậu phương đă cho tôi có được những giây phút lâng lâng hạnh phúc hồi tưởng nhớ lại mấy tháng đi chiến dịch.

 

 Chuẩn bị sang quân trường Đồng Đế

 Đoàn xe chở chúng tôi đi độ hơn nửa giờ, th́ đến cổng quân trường Đồng Đế. Quân Trường Đồng Đế tọa lạc sát cạnh bờ biển .Ngồi trên xe, tôi nh́n thấy khoảng trống mênh mông trời nước phía trước mặt ở cuối con đường .

 Đoàn xe đi qua cổng gác, rồi dừng lại một bên sân Vũ Đ́nh Trường. Cả đám Sinh Viên Sĩ Quan khóa đàn anh đang ngồi chờ, chào đón. Chúng tôi vai mang ba lô, tay xách sacramen nhảy xuống xe là đă nghe tiếng ḥ hét, quát tháo của cán bộ quân trường ra lệnh cho đám “Lính mới” dậm chân tại chổ, miệng đếm nhịp 1, 2, 3, 4 …1,2,3,4.

Khi hàng vạn cái chân đă nhịp nhàng ăn khớp với nhau, chúng tôi bắt đầu chạy quanh Vũ Đ́nh Trường chào sân. Sau mấy tháng đi chiến dịch “ăn hút” phây phả, anh em đă tạm quên “mùi” quân trường, cho nên mới chạy hết 3 ṿng, đă có vài “chiến sĩ” ngả gục...và lác đác kéo dài qua đến ṿng thứ 4. Sang ṿng thứ 5, chỉ c̣n lại phân nửa đang chạy mà tôi có cảm tưởng như đang.. đi bộ! Tôi cũng rán cầm cự kéo dài qua được ṿng thứ 5 th́..bắt đầu thấy sao trời chớp nhá, cổ họng tôi khô như có lửa cháy; tôi rán bước thêm vài bước nữa trước khi “gục ngả” nằm dài. Cán bộ quân trường nắm áo tôi kéo đứng dậy, bảo chạy tiếp, tôi lắc đầu, ra dấu tôi đă…hết “xíu quách”, chớ tôi nói không ra lời. Mặc cho cán bộ ḥ hét, tôi quị người xuống chiếc “giường đất” êm ái, để cho tới đâu th́ tới, chớ tôi không c̣n bước nỗi nữa. Biết tôi “làm thật” chớ không phải làm giả, cho nên cán bộ quân trường “thông cảm” cho tôi nằm luôn tại chổ giống như bao nhiêu chiến sĩ  khác...Tôi nghĩ anh nào mà c̣n ngoan cố dấu “hột xoài hột mít” dưới háng hay cà phê sửa mang theo từ Quang Trung ra Đồng Đế, có lẽ cũng..văng hột, xịt sửa ra ngoài, khỏi cần chờ ban Quân Y quân trường trao quà tặng 100 đến 500 ngàn đồng, tiền thưởng cho “chiến sĩ xuất sắc”!

 Sau một lúc nằm dài thẳng cẳng, các chiến sĩ  mới lác đác cục cựa ṃ cái bi đông t́m nước uống. Cán bộ quân trường ngồi ..ŕnh, vừa thấy chúng tôi tay chân “mó máy”, bảo đứng dậy chạy tiếp. Ṿng chạy đợt nh́ nầy gây cấn hơn lần đầu. Cán bộ hướng dẫn ḥ hét dữ tợn hơn, vừa chạy theo sau lưng đếm nhịp, vừa đẩy người tôi đi tới. Tôi đi gần được một ṿng th́ thấy “ngàn sao”..và hết biết ǵ chung quanh nữa…

Màn ra mắt Quân Trường chỉ có vài tiếng đồng hồ thôi, một số anh em chúng tôi ê ẩm cả long thể.

 Ba tuần lể huấn nhục bắt đầu sau 2 tuần chúng tôi đến quân trường Đồng Đế. Trong 3 tuần nầy, chúng tôi phải chịu nép ḿnh chấp hành những qui luật của quân trường, thi hành những h́nh phạt, biểu ǵ làm nấy, bảo sao làm vậy.., phải thi hành, không được phản đối cũng như có ư kiến. Phải chịu đựng những kham khổ. Chúng tôi được cắt cử làm những công tác mà tay chân phải đụng chạm với bùn śnh, chất thải dơ bẩn, không được phép thay quần áo, tắm rửa, để nguyên áo quần dơ và mang giầy vớ dơ ngủ một đôi ngày. Chân nhớt nhợt v́ chất bẩn tồn động trong đôi vớ thối, nơi các ngỏ ngách thoát mồ hôi, chổ tiếp giáp của thân thể với tứ chi không được vệ sinh nên ”lên men”..cũng nhớt nhợt, phát ra mùi khó ngửi và ngứa ngái khó chịu vô kể. Chúng tôi không được nhân thư từ, không gặp gở, tiếp xúc với ai, ngoài những người bạn đồng ngủ và sĩ quan Đại Đội Trưởng Khóa sinh. Không được đi đến Câu Lạc Bộ, không hút thuốc lá …

Một số khoá sinh không chịu đựng nỗi gia đoạn huấn nhục đă bỏ cuộc nửa chừng, hoặc v́ quá bức xức (đè nén ?), quá sức chịu đựng của ḿnh nên nổi khùng không kềm chế được ḿnh, gây nên những hành động đáng tiếc .

Hết 3 tuần lễ huấn nhục là một cuộc di hành từ trường lên đến đỉnh núi Đồng Đế có cái tượng “thằng Cù Lần” trên chót vót.

Không biết 2 câu thơ:

“Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,

 Em nằm xơa tóc đợi chờ anh”

Do ai là tác giả? Và đă có từ lúc nào để diển tả khung cảnh bức tượng cao khoảng 25m, đúc bằng ciment, sơn màu trắng, đứng ở thế “nghỉ” của nhà binh đặt trên đỉnh núi; bên

dưới chân của bức tượng là đường nóc của những dăy núi thấp. Đứng phía xa xa từ hướng thành phố Nha Trang, nh́n giống như những đường nét của một người phụ nữ, đang ở thế nằm nghiêng, tóc xơa dài đợi chờ .

Vượt qua được ngọn núi cao để đến đỉnh đồi, rồi đi trở xuống lại chân núi, cũng phải đổ nhiều mồ hôi v́ vai mang ba lô, đầu đội nón sắt cùng súng ống, đạn dược nặng nề.

Từ sáng sớm, các Khóa Sinh rời trại, di quân theo hàng dọc đường ra Ba Làng đến Bải Tiên ṿng theo chân núi, một bên là vách đá, một bên là bờ biển. Buổi sáng sớm, thủy triều xuống thấp, bải cát dài, rộng, có lẫn đá lớn nhỏ lỏm chỏm. Đi khoảng 3 cạy số, rẽ sang con đường ṃn, đi leo lên những triền dốc. Có lúc gặp con dốc hơi thẳng đứng, Khoá Sinh phải rán khom lưng, hoặc ḅ, hay dùng đủ phương cách để vượt qua. ̀ ạch theo chân các bạn ḿnh, đến xế trưa, tôi cũng được “ôm chân” thằng Cù Lần. Một sĩ quan cán bộ ngồi sẵn ở dưới chân bức tượng ghi tên, ghi danh số để biết người nào đă đến nơi, người nào c̣n “chém vè” ở lưng chừng núi.

Trên đường xuống núi th́ đỡ vất vả hơn lúc leo lên. Cứ đổ dốc mà..chạy! Có lúc dùng bàn tọa ngồi cho trượt xuống núi, và biết chắc là về barrack sẽ ..bỏ cái quần!

Xế chiều, tất cả các Khóa Sinh tập hợp đầy đủ dưới chân núi. Sau khi sĩ quan cán bộ kiểm điểm xem c̣n em nào ở nán lại để tâm sự với thằng Cù Lần không? Đầy đủ quân số rồi, chúng tôi trở về trại lúc trời nhá nhem tối.

 Anh em được tắm một bữa thả dàn, để chuẩn bị sáng hôm sau mặc quần áo sạch sẽ, nguyên bộ văi kaki mầu vàng nâu, có thắc cravate, đầu đội mũ lưỡi trai, dự lễ gắn Alpha, chánh thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

H́nh trích từ tài liệu [11] 

 

Sau buổi lễ gắn Alpha, chúng tôi được đi phép và phải trở lại quân trường lúc 6 giờ chiều cùng ngày .

 Khu Tiếp Tân tọa lạc kế bên bờ biển, nằm một bên, phía trước cổng chính của quân trường Đồng Đế đông nghẹt thân nhân của các SVSQ đến thăm. Tôi th́ ra Nha Trang không có th́ giờ đi dạo phố phường, chưa quen cô nào hết và gia đ́nh lại ở xa nên không có ai đến thăm!

Tôi thả bộ đi ṿng ṿng khu Tiếp Tân, nh́n thiên hạ lao xao một lúc rồi tấp vô ngồi nơi mấy cái quán cốc che tạm bằng những miếng vải nylon do vợ con của các nhân viên cơ hữu đang phục vụ trong quân trường bài bán thức ăn uống làm một bụng cho đả thèm, xong tôi la cà xuống những quán cốc khác bán dừa tươi dọc theo bải cát, chọn cho ḿnh được một chiếc ghế bố, ở một vị trí mát mẻ, tôi ngồi nh́n ra khơi trời nước bao la, nghe sóng vỗ ŕ rào, gió vi vu nhăm nhi nước dừa ngọt, mát rượi ’’ .

 

Từ đó cho đến cuối năm 1973, quân trường Đồng Đế dồn mọi nỗ lực vào nhiệm vụ liên tục mở ra nhiều khóa đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị mỗi năm có từ 4 đến 5 khóa, mỗi khóa có từ 500 đến 1000 sinh viên sĩ quan theo học.

Aucune description de photo disponible.

Lễ gắn lon Alpha khóa 8/72- H́nh trích từ tài liệu [7] 

Núi Ḥn Khô đối diện với Vũ Đ́nh Trường, Quân Trường Đồng Đế, Nha Trang
trong Ngày Lễ măn Khóa 10A-1972/SQTB Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- H́nh trích từ tài liệu
[3] 

Theo tài liệu [1] : Ngoài những nhiệm vụ chính chỉ định , trường c̣n nhận huấn luyện đào tạo các lớp quân sự khác (không những đối với các thí sinh trong nước, mà c̣n nhận cả những thí sinh từ các nước bạn Lào và Cao Miên) do Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn giao phó.

Trường Hạ Sĩ Quan đă liên tục huấn luyện các khoá học như đă kể trên cho đến tháng 4 năm 1975, trường đă đào tạo được 120.000 Hạ Sĩ Quan, hơn 8.000 Sĩ Quan Hiện Dịch và 12.000 Sĩ Quan Trừ Bị cùng nhiều khoá huấn luyện quân sự cho Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Mặt khác, tài liệu [1]   ghi : Là một quân trường huấn luyện Biệt Động Quân đầu tiên, và nhất là đă đào tạo được trên 100,000 Hạ Sĩ Quan ưu tú, 1,800 Sĩ Quan Hiện Dịch, và 12,000 Sĩ Quan Trừ Bị, góp phần không nhỏ vào việc phát triển và nâng cao hiệu năng tác chiến của Quân Lực việt Nam Cộng Ḥa.

 

Từ ngày thành lập  năm 1955 đến tháng 4 năm 1975, theo tài liệu  [3] , quân trường Đồng Đế đă được 17 Sĩ Quan cấp Tướng Tá tài ba lỗi lạc, giàu kiến thức quân sự và kinh nghiệm chiến trường chỉ huy hướng dẫn . Đó là :

1. Thiếu tá Lê Cầm ;
2. Đại tá Trần Vĩnh Đắc ;
3. Đại tá Nguyễn Thế Như ;
4. Trung tá Đoàn Văn Quảng ;
5. Đại tá Đặng Văn Sơn ;
6. Đại tá Đỗ Cao Trí ;
7. Đại tá Nguyễn Văn Kiểm ;
8. Đại tá Nguyễn Vĩnh Xuân ;
9. Trung tá Lê Quang Liêm ;
10. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Là ;
11. Đại tá Lâm Quang Thơ ;
12. Đại tá Phạm Văn Liễu ;
13. Đại tá Lê Văn Nhật ;
14. Trung Tướng Linh Quang Viên ;
15. Chuẩn Tướng Vơ Văn Cảnh ;
16. Trung Tướng Dư Quốc Đống ;
17. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần.

Tuy nhiên bảng dưới đây trích từ tài liệu [2] ,cho thấy chỉ có 16  Chỉ Huy Trưởng .

      Họ và tên-  Cấp bậc - Tại chức - Chú thích

1    Lê Cầm-Thiếu Tá-1955-1956-Chỉ huy trưởng đầu tiên-Tiếp thu Quân trường từ Quân đội Pháp. Sau giải ngũ ở cấp Trung Tá ;

2    Trần Vĩnh Đắc -Đại Tá -1956-1957-Sau biệt phái sang làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia ;

3    Nguyễn Thế Như-Vơ Bị Liên Quân-Viễn Đông Đà Lạt K1- Đại Tá -1957-1959-Giải ngũ cùng cấp ;

4    Đoàn Văn Quảng-Vơ Bị Lục Quân Pháp-Trung Tá-1959-Sau là Thiếu Tướng Tham Mưu Phó tại Bộ Tổng Tham Mưu ;

5    Đặng Văn Sơn-Trường Hạ Sĩ Quan Pháp-Đại Tá-1959-1961-      Giải ngũ ở cấp Đại Tá;

6    Đỗ Cao Trí-Sĩ Quan Nước Ngọt Vũng Tàu (Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông K2)- Đại Tá -1961-1962-Năm 1971, tử nạn trực thăng khi đang là Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III. Được truy thăng Đại Tướng ;

7    Nguyễn Văn Kiểm-Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt K1- Đại Tá-1962-1964 -      Năm 1969, tử thương ở cấp Thiếu tướng do đặc công địch đánh bom sát hại;

8    Nguyễn Vĩnh Xuân-Sĩ Quan Thủ Đức K1-Trung Tá-Đầu năm 1964-Giải ngũ ở cấp Đại Tá ;

9    Nguyễn Văn Là-Vơ Bị Tông Sơn Tây-Thiếu Tướng-1964-1966-Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung Tướng;

10 Lâm Quang Thơ-Vơ Bị Đà Lạt K3-Đại Tá-1966-1967- Chỉ Huy Trưởng sau cùng Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam ở cấp Thiếu Tướng;

11 Phạm Văn Liễu-Vơ Bị Lục Quân Chapa, Yên Bái (Trần Quốc Tuấn)- Đại Tá-1966- 1967- Nguyên Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Sau giải ngũ cùng cấp;

12 Lê Văn Nhật-Vơ Bị Địa phương Trung Việt Huế K1- Đại Tá-1967-1969-Giải ngũ cùng cấp ;

13 Linh Quang Viên-Vơ Bị Tông Sơn Tây -Trung Tướng-1969-1972-Giải ngũ năm 1973, được cử đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng ḥa tại Cộng ḥa Trung Phi và Cộng Ḥa Tchad ;

14 Vơ Văn Cảnh-Vơ Bị Địa Phương Trung Việt (Trường Sĩ quan Đập Đá, Huế)-        Chuẩn Tướng -1972-1973-Sau là Thiếu Tướng ;

15 Dư Quốc Đống-Vơ Bị Đà Lạt K5-Trung Tướng- 1973-1974-Sau phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu;

16 Phạm Quốc Thuần-Vơ Bị Đà Lạt K5- Trung Tướng-1974-tháng 4/1975-Chỉ Huy Trưởng cuối cùng.

 

Danh sách dưới đây  trích từ tài liệu [1] và [7]  cũng chỉ có  16  Chỉ Huy Trưởng :

1 - Thiếu tá Lê Cầm 1955-1956 (sau là Trung tá) ;
2 - Đại tá Trần Vĩnh Đắc 1956-1957 ;
3 - Đại tá Nguyễn Thế Như 1957-1958 ;
4 - Trung tá Đoàn Văn Quảng 1958-1959 ;
5 - Trung tá Đặng Văn Sơn 1959-1961 (sau là Đại tá) ;
6- Đại tá Đỗ Cao Trí 1961-1962 ;
7 - Đại tá Nguyễn Văn Kiểm 1962-1963 ;
8 - Trung tá Nguyễn Vĩnh Xuân 1963-1964 (sau là Đại tá) ;
9 - Thiếu tướng Nguyễn Văn Là 1964-1965 ;
10 - Đại tá Lâm Quang Thơ 1965-1966 ;
11 - Đại tá Phạm Văn Liễu 1966-1967 ;
12 - Đại tá Lê Văn Nhựt 1967-1969 ;
13 - Trung tướng Linh Quang Viên 1969-1972 ;
14 - Chuẩn tướng Vơ Văn Cảnh 1972-1973 ;
15 - Trung tướng Dư Quốc Đống 1973-1974 ;
16 - Trung tướng Phạm Quốc Thuần 1974-1975.

 

Theo tài liệu [3] :

Quân trường Đồng Đế khởi đầu từ một trường Biệt Động Đội nhỏ bé, sau trở thành một quân trường lớn, một quân trường kiểu mẫu, một ḷ luyện thép của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đa năng, đa nhiệm, có khả năng mở nhiều khóa huấn luyện khác nhau, đảm nhiệm những trách vụ khác nhau, từ huấn luyện biệt động đội, thể dục, vơ thuật, cận chiến, bổ túc và đào tạo Hạ Sĩ Quan, huấn luyện căn bản quân sự cho sinh viên sĩ quan  Hải Quân và Không Quân, đến đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch và Trừ Bị, và đă hoàn thành được nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Đó là nhờ công lao, ḷng nhiệt thành cùng tinh thần phục vụ cao của các vị chỉ huy, trong đó đáng kể nhất là Đại Tá Đặng Văn Sơn Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ binh được Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa  bổ nhiệm về chỉ huy quân trường Đồng Đế gần cuối năm 1959 với nhiệm vụ đặc biệt là lănh đạo việc huấn luyện đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch, kiện toàn hệ thống tổ chức điều hành của trường và chỉnh trang xây dựng mở mang trường ốc, v.v.

Trong 2 năm giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng quân trường, với tài lănh đạo chỉ huy sáng suốt, kiến thức dồi dào cùng với ḷng nhiệt thành hăng say phục vụ, Đại Tá  Đặng Văn Sơn đă hoàn thành được trách vụ một cách tốt đẹp do thượng cấp giao phó.
Trong cuộc chiến chống cộng sản xâm lược miền Nam, đă có nhiều chiến binh các cấp từ quân trường Đồng Đế khi ra trận địa đă giữ tṛn lời thề trung thành với tổ quốc, đă chiến đấu rất kiên cường dũng cảm, đă hy sinh cho lư tưởng tự do, đă nằm xuống vĩnh viễn trong ḷng đất Mẹ Việt Nam như :

1. Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, nguyên Chỉ Huy Trưởng Quân Trường Đồng Đế, trong các chức vụ tư lệnh chiến trường, nổi danh là một tướng lănh can trường bất chấp mọi hiểm nguy, luôn luôn có mặt tại mặt trận để chỉ huy điều động các đơn vị dưới quyền chiến đấu; đă tử nạn trực thăng ngày 23 tháng 2 năm 1971 trong khi bay thị sát chiến trường ngoại biên ;

2. Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, xuất thân Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch trường Đồng Đế. Trong các chức vụ Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân, Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh, ông nổi tiếng là một cấp chỉ huy can đảm, có biệt tài điều quân chiến đấu, nhất là trong trận đánh giải tỏa An Lộc năm 1972 và Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Chương Thiện. Trong biến cố 30-4-1975 ông đă chiến đấu chống quân xâm lược cộng sản đến viên đạn cuối cùng, nhất định không chịu quy hàng địch quân, bị địch bắt và xử bắn tại Cần Thơ;

 3. Cố Đại tá Cao Văn Ủy, nguyên Trưởng Khoa Chiến Thuật, cố Đại tá Vũ Phi Hùng nguyên Trưởng Khoa Vũ Khí trường Đồng Đế, sau là 2 kiện Tá Liên Đoàn Trưởng Biệt Động Quân nổi tiếng can đảm, là đối thủ đáng sợ của Sư Đoàn Sao Vàng việt cộng.
4. Trung tá Nguyễn Đăng Ḥa, đồng Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch với cố Đại tá Hồ ngọc Cẩn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Quái Điểu Thũy Quân Lục Chiến, nổi tiếng trong nhiều trận chiến, nhất là trận đánh trực thăng vận đổ xuống ngay trên đầu địch quân để tái chiếm quận Triệu Phong trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972;

5. Trung tá Lê Quư Dậu, xuất thân Khóa 3 Sĩ Quan Hiện Dịch trường Đồng Đế, Liên đoàn Trưởng Biệt Động Quân là một cấp chỉ huy kiệt xuất trong nhiều chiến trận, như trận đánh ác liệt tử thủ An Lộc tháng 6 năm 1972;

 Và c̣n nhiều những chiến sĩ khác xuất thân từ trường Đồng Đế đă nêu cao gương chiến đấu dũng cảm trước họng súng quân thù, đă hy sinh cho lư tưởng tự do, máu của họ đă đổ xuống trong nhiều trận địa, xương thịt đă vùi sâu trong ḷng đất mẹ Việt nam, nhiều chiến sĩ đă trở thành thương binh, để lại một phần thân thể trong cuộc chiến và nhiều chiến sĩ đang định cư tại các quốc gia tự do trên thế giới sau những năm bị đọa đày, lầm than cơ cực trong ngục tù cải tạo của cộng sản.

Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh tái lập ḥa b́nh tại Việt Nam kư năm 1973,  chưa ráo mực đă bị cộng sản Hà Nội xé bỏ .Biến cố bất hạnh 30 tháng 4, năm 1975 ập đến, cộng quân Bắc Việt tràn vào đánh chiếm cả miền Nam, Sài G̣n thất thủ, Việt Nam Cộng Ḥa  sụp đổ, Nha Trang mất, ngôi Trường Đồng Đế lọt vào tay kẻ thù, hàng triệu người Bắc-Nam xuôi ngược t́m đường trốn chạy cộng sản bỏ nước ra đi, hàng triệu người, kẻ vượt núi đồi băng rừng đi đường bộ bất kể hiểm nguy, kẻ đổ xô ra biển lênh đênh trên những con thuyền bé nhỏ mong manh đương đầu với sóng xô băo táp của đại dương mênh mông cùng lũ hải tặc man rợ. Chiến hữu Đồng Đế, kẻ mất người c̣n, kẻ vượt biển, người vượt biên, người bị  ngụy quyền cộng sản trả thù, đày đọa trong lao tù tăm tối vô vọng.

 

Phụ đề : Tiểu sử nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng

 

 

Theo tài liệu [12] :

Trầm Tử Thiêng tên thật là Nguyễn Văn Lợi, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1937 tại Đại Lộc, Quảng Nam, nhưng trên giấy tờ ghi sinh năm 1940.

Ông bắt đầu ca hát từ năm lên 10 ở các thôn quê miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1949. Sau đó, ông lên Sài G̣n học trung học.

Năm 1958, Trầm Tử Thiêng tốt nghiệp trường Sư Phạm và bắt đầu dạy học.

Năm 1966, Trầm Tử Thiêng gia nhập Cục Tâm Lư Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Thời gian này ông viết các bản nhạc như: Quân trường vang tiếng gọi, Đêm di hành, Mưa trên poncho.

Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 phát động bởi giặc cộng, Trầm Tử Thiêng viết bài Chuyện một chiếc cầu đă găy nói về cầu Trường Tiền bị giật sập.

Năm 1970, ông viết Tôn Nữ c̣n buồn về trận băo tàn phá miền Nam. Ngoài ra, ông cũng tham gia vào phong trào Du ca Việt Nam.

Từ năm 1970, Trầm Tử Thiêng làm việc cho chương tŕnh Phát Thanh Học Đường chung với Lê Thương, Hùng Lân, Vĩnh Bảo, Tống Ngọc Hạp, Xuân Điềm, Bảo Tố, Đắc Đăng... Lấy bút hiệu là Anh Nam, ông sáng tác các bài nhạc thiếu nhi đề tài lịch sử, xă hội văn hóa để giáo dục cho học sinh tiểu học toàn quốc. Công việc chấm dứt khi xảy ra sau ngày mất nước 30/4/1975..

Sau nhiều lần vượt biên không thành, ông bị tù cải tạo một thời gian.

Năm 1985, sau khi ra tù, ông được ca sĩ Thanh Thúy bảo lănh sang định cư tại Little Saigon, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ông là cố vấn ban chấp hành Hội Kư Giả Việt Nam Hải Ngoại 2 nhiệm kỳ 1996 - 2000.

Cuối năm 1999, ông cùng các bạn văn nghệ sĩ sáng tác lập Thư Viện Việt Nam tại Little Saigon.

Ở Hoa Kỳ, ông cộng tác với Trung Tâm Mây và Trung Tâm Asia. Đặc biệt, Trầm Tử Thiêng đă cùng Trúc Hồ sáng tác nhiều ca khúc cho thể loại nhạc đồng ca như: Bước chân Việt Nam, Việt Nam niềm nhớ, Một ngày Việt Nam, Cám ơn anh... và những t́nh khúc như Cơn mưa hạ, Đêm, Đă qua thời mong chờ, T́nh đầu thời áo trắng... Một bài hát khác của ông là Đêm nhớ về Sài G̣n viết năm 1987 cũng được nhiều người biết đến.

Tháng 8 năm 1996, Trầm Tử Thiêng viết Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng nhân sự kiện một làng Việt Nam được xây dựng ở Philippines (Phi Luật Tân) dành cho người Việt lưu vong. Bài hát nổi tiếng với tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly.

Ngày 25 tháng 1 năm 2000, Trầm Tử Thiêng qua đời tại trung tâm y tế Anaheim Tây-California .

Năm 2007, Trung Tâm Asia thực hiện chương tŕnh Asia 54: Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ / Bước Chân Việt Nam để vinh danh ông cùng nhạc sĩ Trúc Hồ.

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://linhvnch.wordpress.com/truong-ha-si-quan-vnch/ Trường Hạ Sĩ Quan Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa .

2.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_H%E1%BA%A1_s%C4%A9_quan_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Trường Hạ sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .

3.     https://nhayduwdc.org/k10a72/k10a72_st/qtdd/2017/k10a72_st_qtdd_2017_tsqtdd_2017MAR10.htm Tiểu Sử Quân trường Đồng Đế-QLVNCH - Trần Đ́nh .

4.     http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa-Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam- BĐQ Đỗ Như Quyên (Ranger Charlie Brown Phương).

5.      https://siquantrubi.blogspot.com/2008/12/tram-tu-thieng-va-quan-truong-vang.html

Sĩ Quan Trừ Bị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa - Trầm Tử Thiêng và Quân Trường Vang Tiếng Gọi .

6.     https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/nha-bien-khao-ho-dac-huan-nho-ngay-dau-tien-tai-quan-truong-dong-de/ Nhà biên khảo Hồ Đắc Huân nhớ ngày đầu tiên tại Quân Trường Đồng Đế - Lâm Hoài Thạch/Người Việt -March 29, 2025 .

7.     https://www.facebook.com/media/set/?set=a.167132260619048&s=15 -Albums de Phóng Viên Chiến Trường - Quân Trường Đồng Đế - Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .

8.     https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/khoa16svsq.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan -  Khóa 16 .

9.     https://tvbqgvn.org/tailieu/cackhoavb/k16maitrungngoc.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam-Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan – Lư Tưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia Viet54 Nam - Khóa 16 Vật Tế Thằn- Mai Trung Ngọc .

10.  https://conganhuynh.com/Chuong6.htm Huỳnh Công Ân-Chương 6 -  Tuổi trẻ trong thời chinh chiến .

11.  https://luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%203-8-43.htm – Từ Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ qua Quang Trung đến Đồng Đế-Nha Trang-Minh Vũ-Hồi Kư.

12.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7m_T%E1%BB%AD_Thi%C3%AAng Trầm Tử Thiêng.

 


3- Trường Bộ Binh Thủ Đức – Quận Thủ Đức-Tỉnh Gia Định

 

Trường Bộ Binh Thủ Đức tọa lạc tại quận Thủ Đức-tỉnh Gia Định, là hậu thân của Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ,sau đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, sau đó lấy lại danh hiệu  Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và sau cùng được cải danh thành  Trường Bộ Binh Thủ Đức . Trường Bộ Binh Thủ Đức c̣n được gọi là Trường Lục Quân Thủ Đức.

Tuy nhiên, danh hiệu Trường Bộ Binh Thủ Đức là  tên phổ biến .

 

Bài này được chia làm 5 phần :

Phần 1 : Lược sử thành lập ;

Phần 2 : Nhiệm vụ chính ; 

Phần 3 : Chương tŕnh đào tạo ;

Phần 4 : Các Vị Chỉ Huy Trưởng và các khóa đào tạo;

Phần 5 : Thành quả .

 

Phần 1 : Lược sử thành lập

 

Theo tài liệu  [1] &  [2] :

 

Sau khi kư Hiệp Ước Pháp–Việt ngày 05 tháng 6 năm 1948 tại Vịnh Hạ Long, công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp, Quốc Trưởng Bảo Đại đă kư hiệp ước ngày 08 tháng 3 năm 1949 tại điện Élysée với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, theo đó, pháp sẽ giúp Việt Nam thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

Ngày 23 tháng 12 năm 1950, ba xứ Pháp–Mỹ–Việt kư  Hiệp Định Hỗ Tương, pḥng thủ, và viện trợ quân sự . Theo đó, Mỹ viện trợ cho Quốc Gia Việt Nam 2 tỷ Mỹ kim trong 4 năm, từ 1950 đến 1954 để trang bị cho quân đội. Cùng ngày, Nghị Định thành lập 2 trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định và Thủ Đức (École d’Officiers de Réserve) được ban hành, nhằm đào tạo sĩ quan ngạch trừ bị  người Việt cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp.

Ngày 05 tháng 5 năm 1951, Bộ Quốc Pḥng của Quốc Gia Việt Nam mới thật sự được thành lập bằng những cơ cấu tiên khởi đă được phác họa và tạm sắp xếp từ thời chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân .

Do Sắc Lệnh của Quốc Trưởng Bảo Đại kư dụ số 12 ngày 15 tháng 7 năm 1951, gọi Tổng Động Viên thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Việc động viên thành phần sĩ quan nhắm vào tư nhân, công tư chức, học sinh, sinh viên có bằng từ Cao Đẳng Tiểu Học hay Trung Học Đệ Nhất Cấp hoặc tương đương trở lên.

Trong đợt động viên đầu tiên, vào năm 1951, có nhiều sinh viên sĩ quan đă đậu bằngTú Tài hay Cử Nhân, đặc biệt tại trường Sĩ Quan Nam Định có 197 sinh viên sĩ quan (SVSQ) (55.33%) trong số 356 SVSQ có bằng Tú Tài trở lên, riêng sinh viên sĩ quan Nguyễn Phú Đức đă có bằng Tiến Sĩ Luật Khoa.

Theo tài liệu  [3] :  Vào thời điểm này  , Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam thành lập hai trường Sĩ Quan Trừ Bị tại hai (2) địa điểm : Miền Bắc lập trường tại Nam Định gọi là Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định và miền Nam lập tại Thủ Đức gọi là Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trường Thủ Đức được xây dựng trên đồi Tăng Nhơn Phú, xă Linh Xuân Thôn, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định .

Cả hai trường đều tuyển sinh viên và khai giảng khóa học đầu tiên cùng một ngày : Ngày 01  tháng 10 năm 1951. Khóa 1 Nam Định mang tên Lê Lợi và  trong khi đó Khóa 1 Thủ Đức mang tên Lê Văn Duyệt . (Ngày 09 tháng 10 theo tài liệu [1] ).

 Tài liệu [1]  viết : Nhưng v́ dự án xây cất trường ốc trên đồi Tăng Nhơn Phú tại Thủ Đức  chưa hoàn tất nên Khoá 1 Sĩ Quan Trừ bị đă được khai giảng tại hai địa điểm ở Bắc và Nam Việt, đó là Nam Định và Thủ Đức .  (Chú thích : Đoạn văn trên rất mơ hồ - Xin các bực thức giả bổ túc dùm-Xin đa tạ)

Tại Nam Định, trường sử dụng một số pḥng ốc trong Camp Carreau làm nơi huấn luyện. Camp Carreau là một căn cứ quân sự của Bộ Chỉ Huy Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại Việt Nam, nằm trong khuôn viên nhà máy sợi Nam Định.

Vấn đề động viên sĩ quan lúc đầu cũng gặp một vài trở ngại như tại Nam Định có một số khoá sinh, sau khi hết phép vào dịp Tết Nguyên Đán, đă trở về đơn vị trễ hay bỏ học, không trở lại trường. V́ vậy cho nên có một số sinh viên sĩ quan trong trường hợp nói trên đă bị bắt giữ, nhưng sau lại được thả ra và đưa vào Thủ Đức tiếp tục học Khoá 1 hay được phép thi vào trường Vơ Bị Đà Lạt .

Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định chỉ đào tạo được một (1) khoá rồi đóng cửa vĩnh viễn vào năm 1952 v́ tại Thủ Đức, Trường lúc đó đă được xây dựng xong, đủ chỗ cho cả khoá.

Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định được bàn giao lại cho trường Vơ Bị Nam Định vào khoảng cuối năm 1952.

Theo tài liệu  [1] &  [3] : Cũng từ thời điểm này, thí sinh trên toàn Quốc gia nhập ngũ vào sĩ quan trừ bị đều vào học tại Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Sinh viên Khoá 2 Nam Định được đưa vào  học tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Khóa 2 được khai giảng vào ngày 15 tháng 10 năm 1952.

Theo tài liệu [1] & [4] : Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tọa lạc trên khu đồi Tăng Nhơn Phú, cách chợ Thủ Đức khoảng hai cây số , cách thủ đô Sàig̣n 18 cây số về hướng Đông Bắc.

Tại Thủ Đức, để có đủ quân số khẩn thành lập các đơn vị khinh quân thay thế quân Pháp rút khỏi các đồn bót, lệnh tổng động viên đă được ban hành vào ngày 01 tháng 4 năm 1953. Theo kế hoạch dự trù th́ việc động viên được chia làm 4 đợt, mỗi đợt 10,000 người trong tháng, kể từ tháng 7 năm 1953. Các thành phần trước đây đă phục vụ trong quân ngũ, nay cũng bị tái ngũ. Ngoài ra, 60,000 thanh niên Việt Nam cũng được lệnh nhập ngũ để thụ huấn hai tháng về căn bản quân sự, sau khi măn khoá, họ được trở về với gia đ́nh để chờ lệnh. Sự thực th́ vấn đề động viên binh sĩ lúc bấy giờ chỉ là một nhu cầu chính trị

Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức huấn luyện sinh viên sĩ quan tŕnh diện nhập ngũ thuộc các tỉnh từ Huế trở vào Nam. Ban đầu trường tạm dựng những dăy nhà mái lá, vách phên tre làm chỗ cho sinh viên sĩ quan tạm trú.

Theo tài liệu [1] : Chương tŕnh huấn luyện sĩ quan trừ bị cũng tương tự như chương tŕnh đào tạo các sĩ quan hiện dịch. Thời gian huấn luyện dài khoảng 6 tháng, không kể thời gian thực tập. Tính đến cuối năm 1953, QĐQG gồm có 198,000 người, trong đó 151,000 (76.27%) là chính quy và 47,000 (23.73%) là phụ lực quân .

Ngày 12 tháng 8 năm 1954, Dụ số 12 kư ngày 15 tháng 7 năm 1951 và các nghị định liên quan đến dụ trên đều tạm đ́nh chỉ cho đến khi có lệnh mới. Lệnh động viên được tạm ngưng nhưng các quân nhân Trừ Bị vẫn được lưu giữ.

Theo tài liệu [3] :  Từ khóa 1 đến khóa 5, hơn 4,000 sĩ quan được đào tạo tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy, trường hợp thi tốt nghiệp với số điểm thấp hơn quy định th́ ra trường mang cấp bậc Chuẩn Úy hoặc Trung Sĩ (Hạ Sĩ Quan). Thiếu úy sau 2 năm được đương nhiên thăng cấp Trung Úy  và Chuẩn Úy  sau 18 tháng được thăng cấp Thiếu Úy .

Nhưng từ khóa 6 trở về sau, khóa sinh tốt nghiệp chỉ mang cấp bậc Chuẩn Úy . Sĩ quan xuất thân từ khóa 6 này trở về sau, không được áp dụng tiêu chuẩn lên cấp tướng. Cho nên, sau này chỉ thấy cấp cao nhất là cấp Đại tá (Ngoại trừ trường hợp được xét chuyển qua ngạch hiện dịch sẽ được hưởng quy chế lên tướng. Ngoài ra, các quân nhân xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân và 4 khóa sĩ quan hiện dịch đặc biệt thụ huấn ở Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế các năm từ 1959-1963 cũng được hưởng quy chế này).

 

Theo tài liệu [1] :  Tiến tŕnh phát triển của Trường Sĩ Quan Trừ Bị trải qua 3 giai đoạn :

Giai đoạn 1951-1955 :

 Để đáp ứng nhu cầu cán bộ chỉ huy các đơn vị tân lập cho kế hoạch b́nh định lănh thổ và để thay thế các sĩ quan Pháp hiện đang chỉ huy đơn vị Việt Nam, trường Sĩ Quan Trừ Bị được thành lập vào khoảng đầu năm 1951 và khởi sự huấn luyện từ tháng 10 năm 1951.
Khoá 1 Sĩ Quan Trừ Bị khai giảng vào ngày 16 tháng 10 năm 1951. Tại Nam Định, sĩ số là 356 sinh viên sĩ quan, măn khoá vào ngày 01 tháng 6 năm 1952, được đặt tên là Khoá Lê Lợi. Tại Thủ Đức, sĩ số khoảng 250 sinh viên sĩ quan, măn khoá vào ngày 31 tháng 5 năm 1952, được đặt tên là Khoá Lê Văn Duyệt. Tổng cộng cả hai Khoá Lê Lợi và Lê Văn Duyệt có 580 tân sĩ quan gồm 495 Thiếu Úy  và 85 Chuẩn Úy . Thủ khoa Khoá Lê Lợi là  Thiếu Úy Nguyễn Duy Hinh và thủ khoa Khoá Lê Văn Duyệt là Thiếu Úy  Phạm Kim Quy. Cấp hiệu Thiếu Úy , dập theo cấp bậc của quân đội Pháp, là một gạch vàng hay trắng bằng kim tuyến, nằm trên hai cầu vai. “Lon” mầu trắng dành cho các sĩ quan thuộc binh chủng Thiết Giáp, Quân Cụ, và Thông Vận Binh. Cấp hiệu mầu vàng dành cho Bộ binh và các binh chủng khác .

Chỉ huy trưởng đầu tiên người Việt là Đại tá Phạm Văn Cảm, xuất thân Trường Thiếu Sinh Quân.

Trong giai đoạn 1951–1954, các sĩ quan tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu Úy   và có thể chọn ở lại Bộ Binh hay chuyển sang các quân chủng Không Quân, Lục Quân hoặc binh chủng Nhảy Dù.

Nhằm tăng cường cho biện pháp động viên, ngày 12 tháng 4 năm 1954, Thủ Tướng Bửu Lộc đă quyết định động viên tập thể mọi thanh niên sinh từ 01 tháng 01 năm 1929 đến 31 tháng  12 năm 1933. Hầu hết số người trong hạng tuổi này, khoảng 1,250 người đủ điều kiện học vấn, đă tŕnh diện các Bộ Tư Lệnh Quân Khu để theo học Khoá 4 (Khoá Cương Quyết gồm 1,250 sinh viên sĩ quan và Cương Quyết 2 gồm  900 sinh viên sĩ quan, khai giảng vào ngày 25 tháng 3 năm 1954 tại Trường Thủ Đức (Khoá Cương Quyết), số 350 sinh viên c̣n lại được chuyển lên Đà Lạt thụ huấn (Cương Quyết 2), nhưng đến ngày măn khoá, 01 tháng 10 năm 1954, người ta ghi nhận chỉ c̣n lại 160 Thiếu Úy  và 99 Chuẩn Úy  tốt nghiệp, gần 100 sinh viên khác không hội đủ điều kiện nên đă bị loại sau kỳ khảo hạch giai đoạn 1. Thủ Khoa Cương Quyết 2 tại Đà Lạt là Thiếu Úy Ngô Văn Lợi. Thời gian huấn luyện dành cho Khoá 4 là 6 tháng nhưng Khoá Cương Quyết tại Thủ Đức măn khóa sau Khóa Cương Quyết 2 tại Đà Lạt đúng một  tuần .

Từ Khoá 1 đến Khoá 5 ,Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức đă đào tạo hơn 4,000 sĩ quan.

Ngày 12 tháng 4 năm 1954, lệnh động viên lớp tuổi 21 đến 23 vào khoá 4 với tổng số là 1,250 người. V́ Trường Thủ Đức không đủ pḥng ốc, cho nên 250 người được gởi tới học tại trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt. Học xong, trở về Thủ Đức làm lễ măn khoá.
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện Khoá 5 Sĩ Quan Trừ Bị, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tạm ngưng đào tạo sĩ quan trừ bị trong một thời gian khoảng 2 năm do ảnh hưởng của Hiệp Định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 trong điều kiện giảm trừ quân bị.

Theo tài liệu [3] : Đầu tháng 2 năm 1955, Trường gián đoạn tuyển sinh và đào tạo sĩ quan trừ bị do ảnh hưởng của Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 trong điều khoản giảm trừ quân bị.

Theo tài liệu [1] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.

Khoá 6 là khoá sĩ quan trừ bị đầu tiên kể từ ngày nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền Nam, Bắc tại vĩ tuyến thứ 17 bởi Hiệp Dịnh Genève, do Pháp và Việt Minh (cộng sản Hà Nội) cùng thỏa thuận kư kết vào ngày 21 tháng 7, năm 1954. Đại úy Nguyễn Viết Thanh, sau này là Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV, được chỉ định làm giám đốc “Trường Sĩ Quan Trừ Bị ”này. Tổng số sinh viên sĩ quan Khoá 6 gồm khoảng 600 người kể cả 200 khoá sinh thuộc Bảo An Đoàn. Đặc biệt khoá này được huấn luyện trong thời gian 11 tháng để các tân sĩ quan có đủ khả năng chỉ huy một đơn vị cao hơn cấp trung đội khi cần.
Cũng kể từ Khoá 6 Sĩ quan Trừ bị, sinh viên sĩ quan sau khi tốt nghiệp được mang cấp bậc Chuẩn Úy thay v́ Thiếu Úy như 5 Khoá trước áp dụng quy chế của quân đội Pháp. Chuẩn Úy Phạm Văn Vĩnh đậu Thủ Khóa Khóa 6.

 

Giai đoạn 1955–1963

Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu  [3]),  Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm các quân trường sau đây :

1.     Trường Bộ Binh;

2.     Trường Thiết Giáp;

3.     Trường Pháo Binh;

4.     Trường Công Binh;

5.     Trường Truyền Tin;

6.     Trường Quân Cụ;

7.     Trường Thông Vận Binh (Quân Xa);

8.     Trường Quân Chính.


Riêng hai trường Pháo Binh và Công Binh tuy thống thuộc Liên Trường nhưng trú đóng tại B́nh Dương và Khoá 6 sĩ quan trừ bị được tiếp tục huấn luyện ngày 25 tháng 3 năm 1957.

Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, ngoài sĩ quan bộ binh, c̣n đào tạo sĩ quan Thiết Vận, Quân Chính, Quân Cụ, Quân Nhu, Quân Y, Dược, Truyền Tin, Công Binh, Thông Vận Binh (Xa Binh) . Thời gian huấn luyện là 38 tuần .

Từ năm 1955 đến năm 1961, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đă cung cấp :

2/3 tổng số sĩ quan Bộ Binh;

80% cán bộ (Sĩ quan và chuyên viên Quân Nhu);

89% cán bộ Quân Cụ;

95% cán bộ Thiết Giáp và Truyền Tin;

97% cán bộ Pháo Binh;

90% cán bộ Công Binh .


Kể từ Khoá 10 (tháng 6 năm 1960), các khoá sinh có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp phải qua một kỳ thi tuyển để theo học vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị.

Theo tài liệu [5] : Tháng 10 năm 1961, do sự bành trướng chiến tranh xâm lăng của bọn cộng sản Bắc Việt gây ra, t́nh trạng đất nước ở vào giai đoạn khẩn trương. Nhiều trận chiến bùng nổ trên toàn lănh thổ Miền Nam. Nhu cầu cán bộ chỉ huy để cung ứng cho chiến trường lại gia tăng, v́ thế các quân trường chuyên môn được tách khỏi Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, ngoại trừ hai trường Bộ Binh và Thiết Giáp, để lấy chỗ huấn luyện số thanh niên đông đảo được động viên trong một chương tŕnh đại quy mô. V́ vậy, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức chỉ c̣n 3 trường là Bộ Binh, Thiết Giáp, Vũ Thuật, và Thể Dục Quân Sự.

Theo tài liệu [1] : Đầu năm 1962 ( kể từ năm 1964 theo tài liệu  [3]) , bắt đầu từ Khoá 13 điều kiện theo học Trường Sĩ Quan Trừ Bị là phải có bằng Tú Tài 1 trở lên.

Các khoá sinh Bảo An kể từ khoá này cũng phải qua kỳ thi tuyển.

Phụ lục : Tuyển sinh Bảo An (Địa Phương Quân) đào tạo thành Sĩ Quan tại Trường Bộ Binh (theo tài liệu [5] ) :  

Nhiệm vụ chính của Trường Bộ Binh là đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho quân chủng Lục Quân, ngoài ra c̣n nhận huấn luyện tuyển sinh cho lực lượng Bảo An là tiền thân của lực lượng Địa Phương Quân.

Trong suốt 10 Khóa kể từ Khóa 7-17, liên tục tổng cộng có nhiều ngàn tuyển sinh Bảo An cùng được đào tạo chung với SVSQ Trừ Bị (động viên lẫn t́nh nguyện). Tham chiếu phóng sự về Lễ Măn Khóa 15 Cách Mạng 1-11-1963 đăng trong báo Chiến Sĩ Cộng Ḥa số 118, phát hành tháng 12-1963, trang 6, 7, 8: “Tổng số khóa sinh Khóa này là 1.852 người gồm có: 738 SVSQ Cộng Ḥa và 1.114 SVSQ Bảo An. Số sinh viên được gọi động viên là 245 người và số t́nh nguyện 607 được chia ra Bộ Binh 1.308, binh chủng chuyên môn 544”.

Thành phần tuyển sinh Bảo An gồm có: Hạ Sĩ Quan Bảo An có thành tích xuất sắc và thanh niên dân chính t́nh nguyện nhập ngũ vào lực lượng Bảo An. Cả hai có tŕnh độ văn hóa Trung Học phổ thông. Ngoại trừ những người có bằng Tú Tài, c̣n lại phải qua một kỳ thi tuyển do Nha Tổng Giám Đốc Bảo An, về sau là Bộ Tư Lệnh ĐPQ tổ chức.

SVSQ Bảo An tốt nghiệp được mang cấp hiệu Thiếu Úy Tạm Thời. Thời điểm này lực lượng Bảo An không có cấp Chuẩn Úy. Đến Khóa 16 tốt nghiệp ra trường bắt đầu mang cấp Chuẩn Úy như chủ lực quân.

Để biết thêm : Bảo An Đoàn thành lập ngày 8-4-1955 theo dụ số 26 trực thuộc Bộ Nội Vụ, rồi Phủ Tổng Thống, về sau thuộc Bộ Quốc Pḥng.

Bảo An Đoàn biến cải thành ĐPQ do Sắc Lệnh số 189/QP ngày 7-5-1964.

Ngày 22 tháng 5 năm 1964, CHỦ LỰC QUÂN, ĐPQ và NQ họp thành QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A do Sắc Lệnh số 161/SL/CT ngày 22-5-1964.

Đến năm 1974, lực lượng ĐPQ tại các Tiểu Khu có nơi tổ chức đơn vị lên cấp Liên Đoàn. Quân số ĐPQ tổng cộng như sau so với NQ và Bộ Binh:

- ĐPQ 281.000 người.

- NQ 189.000 người.

- Bộ Binh 398.000 người.

 

Biểu tượng đơn vị :  Theo  tài liệu  [1] & [3] & [5] :

 

Phù Hiệu

 

 

Năm 1962, phù hiệu của Liên Trường Vơ Khoa Thủ đức gồm ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trong nền xanh và được ghi thêm phương châm Cư An Tư Nguy (Có nghĩa là muốn sống yên ổn th́ phải nghĩ đến lúc hiểm nguy. Suy rộng ra: "Muốn Ḥa b́nh phải chuẩn bị Chiến tranh") do sáng kiến của Đại tá Phan Đ́nh Thứ (tự Lam Sơn) đương nhiệm Chỉ huy trưởng của trường (1962) .

Nền xanh da trời: biểu hiện sự thanh khiết từ tư tưởng đến hành động, và ư chí cao cả của thanh niên đối với quê hương.

Nền xanh là màu biểu tượng của Bộ Binh.

Ngọn Lửa Hồng: biểu hiện ḷng can đảm, chí cương quyết, đức hy sinh.
Thanh Kiếm: biểu hiện cho Cấp Chỉ Huy.

Dây Biểu Chương Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức :  Để tưởng thưởng thành quả huấn luyện,đến tháng 10 năm 1964, Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức  đă được hai lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội và được ban thưởng Dây Biểu Chương màu Anh Dũng Bội Tinh vào ngày 12 tháng 10 năm 1964.

 

Khu Bưu Chính của Trường Bộ Binh :

Theo tài liệu  [5] :

Để giải quyết việc thâu nhận và chuyển đạt công văn, thư tín, danh thiếp, bưu phẩm, bưu phiếu cho đơn vị, và quân nhân trực thuộc. Mỗi đơn vị Quân Đội được thụ hưởng một Khu Bưu Chính (hộp thơ). Viết tắt KBC, với 4 con số ghi sau chỉ danh đơn vị đó.
KBC của Trường Bộ Binh có danh hiệu KBC–4100 trực thuộc Quân Bưu Cục Trung Ương tại thủ đô Sàig̣n.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, hàng ngày, trong tuần, mỗi tháng, các sinh viên sĩ quan của Trường .không ai không mong ngóng đến tin tức của gia đ́nh, người thân, và nhất là những lá thư hồng, mực tím của người yêu xa nhà gởi đến trong lúc sống ở đồi Tăng Nhơn Phú, về sau là Long Thành.

Sinh viên sĩ quan  đọc thơ nhà -H́nh trích tử tài liệu [1] 

 

 

Thiệp chúc Tết của Trường bộ binh Thủ Đức - H́nh trích từ tài liệu [6] 

 

Bài hát chính thức của Trường Bộ Binh : 

Theo tài liệu [5] & [11] : Nhạc phẩm ‘’Thủ Đức Hành Khúc ‘’  của nhạc Sĩ Hoàng Thanh là bài hát chính thức của Trường Bộ Binh.

 

Bài nhạc Thủ Đức Hành Khúc -H́nh trích từ tài liệu [12] 

 

Nội San Trường Bộ Binh :

Theo tài liệu [5] :  Các đơn vị trong QLVNCH trước 1975, tùy theo hoàn cảnh và khả năng, ngoài Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và Bộ Tổng Tham Mưu, mỗi đơn vị đều có một tờ Nội San hoặc Bản Tin là tiếng nói của đơn vị.

Mỗi quân chủng, binh chủng có báo, Quân Đoàn, Sư Đoàn có báo. Tiểu Khu có khi có 2, 3 tờ khác nhau, rồi tới đơn vị nhỏ cấp Đại Đội biệt lập cũng có báo.

Về hệ thống Quân Trường và TTHL th́ tờ Nội San càng phong phú và độc đáo như: ĐA HIỆU của Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, BẮC ĐẨU của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, RA KHƠI của TTHL Hải Quân Nha Trang và nhiều tờ báo của các đơn vị khác. Riêng Trường Bộ Binh (Trừ Bị Thủ Đức), tờ Nội San lấy tên là BỘ BINH.

Tờ BỘ BINH khổ nhỏ 14 x 19 phân, dày khoảng 100 trang, phát hành ở Quân Trường, không bán cho dân chúng.

BỘ BINH là một trong những Nội San có giá trị nhất v́ nội dung, bài vở đa dạng, phong phú bởi lẽ nơi đây tập trung rất nhiều nhân tài hoạt động ở mọi lănh vực từ công tư chức, nhà giáo, đặc biệt rất nhiều văn nghệ sĩ, báo chí, truyền thông... của Miền Nam trước đây động viên vào Quân Đội. Về h́nh thức, tờ Nội San tuyệt đẹp. Ai nhận được Nội San BỘ BINH luôn luôn trân quư.

 

H́nh b́a Nguyệt San Trường Bộ Binh Thủ Đức – H́nh trích từ tài liệu  [5] 

 

Trung Nghĩa Đài :

Trong khuôn viên Trường  Bộ Binh, có một đài tưởng niệm gọi là Trung Nghĩa Đài ghi bốn chữ "Tổ Quốc Ghi Ơn."

 

Trung Nghĩa Đài- H́nh trích từ tài liệu [1] 

 

Nguyên lai Binh Nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị :

Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu căn cứ vào Bảng Tướng Mạo và Quân Vụ Loại C của mỗi quân nhân để thiết lập hàng năm hai quyển Niên Giám Sĩ Quan: Một của Sĩ Quan các Quân Binh Chủng thuộc Chủ Lực Quân và một của Sĩ Quan thuộc Lực Lượng Địa Phương Quân .

Có tên trong Niên Giám Sĩ Quan là những Sĩ Quan có cấp bậc từ Thiếu Úy đến Đại Tướng đang tại ngũ vào năm đó.

Mỗi Sĩ Quan được ghi các chi tiết: Họ và tên, số quân, cấp bậc, ngày thăng cấp, ngạch binh chủng, ngày và nơi sinh, xuất thân, ngày nhập ngũ.

Đối với các Sĩ Quan xuất thân Trường Bộ Binh được ghi xuất thân như sau:

- Sĩ quan Nam Định(xuất thân Khóa 1 Nam Định).

- Sĩ quan Thủ Đức (xuất thân từ Trường Thủ Đức).

- Trường Vơ Bị Quốc Gia  (những Sĩ Quan Khóa Phụ Thủ Đức nhưng thụ huấn tại Đà Lạt, trong số có người vẫn ghi  Sĩ quan Thủ Đức v́ danh bạ được thiết lập khi tŕnh diện tại Thủ Đức).

- Trường Nha Trang :  Đối với các Sĩ Quan Trừ Bị thụ huấn tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH (tại Nha Trang).

 

Từ tháng 10 năm 1962, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức phụ trách huấn luyện những sĩ quan Lục Quân (Bộ Binh) về theo học lớp Đại Đội Trưởng Bộ Binh (theo chương tŕnh học khi tốt nghiệp được văn bằng tốt nghiệp Đại Đội Trưởng hay Bộ Binh Cao Cấp)

Ngày 1 tháng 8, năm 1963 (giữa Khoá 15), Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là  Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và chỉ đảm trách việc đào tạo sĩ quan Trừ Bị cho toàn thể Lục Quân Việt Nam. Mỗi năm, Trường có 3 khoá huấn luyện.

Sau cách mạng (đảo chánh) 1/11/1963, Bảo An cải danh thành Địa Phương Quân.

Tháng 4, năm 1964, Trường được giao phó thêm việc huấn luyện lớp Tiểu Đoàn Trưởng Bộ Binh.

Đến tháng 4 năm 1964, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức lănh thêm nhiệm vụ đào tạo các Cán Bộ Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Trưởng Bộ Binh (theo chương tŕnh học, khi măn khóa được cấp văn bằng tốt nghiệp Đại đội trưởng hoặc Bộ binh Cao cấp). Cũng kể từ năm này các thí sinh muốn trúng tuyển vào học sĩ quan trừ bị phải có văn bằng Tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương.

TRƯỜNG BỘ BINH:

Theo tài liệu [1] & [3] & [5]  Để phù hợp với nhiệm vụ được giao phó, ngày 01 tháng 7  năm 1964, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được đổi lại  tên  là “Trường Bộ Binh” cho đến ngày cuối cùng 30-4-1975.

Từ năm 1951 đến 1967, mỗi năm chỉ có một khoá, đánh số từ 1 đến 27. Giai đoạn từ 1951 đến cuối 1967 được xem là thời kỳ b́nh thường . Mức độ huấn luyện của giai đoạn này được ghi nhận là cao nhất vào năm 1966, có 5.619 Sĩ Quan Trừ Bị tốt nghiệp.


Giai đoạn 1964–1975

 

Cổng trường Bộ Binh tháng 10 năm 1964- H́nh trích từ tài liệu [1] 

 

Theo tài liệu [1] & [3]  Trường Bộ Binh Thủ Đức đào tạo từ khóa 1 (1951) đến khóa 27 theo thứ tự từng năm nhưng  sau cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân phát động bởi việt cộng  và và do  sắc lệnh Tổng động viên ban hành ngày 19 tháng 6 năm 1968, hàng năm Trường Bộ Binh Thủ Đức đào táo 6 đến 8 khóa đánh số theo khóa và năm (1/68,2/68…).

 Chương tŕnh huấn luyện chia thành hai giai đoạn: Trong giai đoạn 1, khoá sinh được gọi là Tân khoá sinh dự bị sĩ quan, thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau khi hoàn tất giai đoạn 1, các Tân khoá sinh/Dự bị Sĩ quan đủ tiêu chuẩn được chuyển sang Thủ Đức học tiếp giai đoạn 2. Về sau, các Tân khoá sinh được huấn luyện giai đoạn 1 ngay tại Thủ Đức.

Sau đây là vài chi tiết đặc biệt  về  Khoá 2/1968 trích từ theo tài liệu [7] :

‘’ Với cường độ ác liệt của chiến tranh, lệnh tổng động viên được ban hành và hầu như mỗi tháng đều có một khóa sĩ quan trừ bị. Lối huấn luyện sĩ quan trừ bị cũng thay đổi. Thay v́ vào thẳng trường Bộ Binh Thủ Đức, các khóa sinh phải học giai đoạn 1 cơ bản quân sự 9 tuần như một người lính tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rồi mới được chuyển lên trường Bộ Binh Thủ Đức học giai đoạn 2.

Lúc học giai đoạn 1 tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, các khóa sinh  được gọi là khóa sinh dự bị sĩ quan. Công việc đầu tiên, sau khi được phát quân trang và quân dụng, của các khóa sinh là lên kho vũ khí lănh súng.  Rồi th́ 9 tuần huấn luyện quân sự  bắt đầu. Mỗi môn học : tác xạ, tháo ráp súng, lựu đạn, ḿn claymore, địa h́nh, ḅ hỏa lực, đoạn đường chiến binh, cận chiến, hành quân dă trại, trực thăng vận, tác chiến trong thành phố... được một sĩ quan huấn luyện viên giảng dạy và một hoặc hai hạ sĩ quan biểu diễn. Mỗi khi một cá nhân hay tập thể vi phạm quân kỷ th́ bị phạt nhảy xổm hoặc hít  đất, nhưng chúng tôi sợ nhứt là bị phạt"chà láng" .

Các khóa sinh đậu giai đoạn 1  được qua gia đoạn 2 ở Trường Bộ Binh Thủ Đức để học sĩ quan . Những khóa sinh c̣n lại được chuyển qua trường Đồng Đế ở Nha Trang và  được phân phối thành 5 đại đội : Đại đội 334 học khóa hạ sĩ quan, 4 đại đội cón lại là 335, 336, 337 và 338 học khóa sĩ quan. Khóa 2/68 sĩ quan trừ bị Đồng Đế măn khóa tháng 11 năm 1968 ‘’.

Theo tài liệu [1] &  [3] Kể từ năm 1968, v́ số lượng SVSQ quá lớn, thiếu trường sở, và huấn luyện viên, nhiều khoá sĩ quan trừ bị đă được đào tạo tại  Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, thường gọi là Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế ở Nha Trang.

Theo tài liệu [4] :  Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức  có những dăy nhà mái ngói đỏ san sát dưới những hàng cây um tùm xanh mát. Đi trên xa lộ Biên Ḥa nh́n về hướng đồi Tăng Nhơn Phú thấy một phần của trường và Học Viện  Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG).

(Phụ chú : Học viện CSQG   nằm bên phải Trường Bộ Binh Thủ Đức từ cổng số 1 nh́n ra Chợ Nhỏ Thủ Đức . Trường sở của CSQG  lúc đầu là Trại Lê Văn Duyệt, Sàig̣n đến năm 1969 th́ xây cơ ngơi mới ở Thủ Đức . Từ đây người ta có thể suy ra rằng đoạn văn trên phài được viết sau năm 1969) .

Theo tài liệu [8]  : Hùng cứ trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú cách thủ đô Sàig̣n 18 cây số về hướng Đông Bắc, Nếu từ phía Biên Ḥa nh́n về, Trường Bộ Binh là một bức tranh tuyệt đẹp với dốc đồi thỏai mái, những dăy nhà san sát mái ngói và nắng ban mai tô vàng bên những hàng cây um tùm xanh mát.

 

Không ảnh của trường bộ binh Thủ Đức c̣n có tên là Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, Liên trường Vơ khoa Thủ Đức, trường vơ bị Thủ Đức, trường sĩ quan Thủ Đức, trường sĩ quan Thủ Đức, trường lục quân Thủ Đức - Aerial view of Vietnamese Army Infantry school - Thu Duc Infantry School

Không ảnh Trường Bộ Binh Thủ Đức – Aerial view of Vietnamese Army Infantry school – Thu Duc Infantry School -H́nh trích từ tài liệu [9] 

 

Kể từ đầu năm 1974, Trường  Bô Binh đă tổ chức huấn luyện thêm các Khóa Bổ Túc Sĩ Quan Tham Mưu Tiểu Khu và Chi Khu cũng như Quân Sự tổng quát cho các Khóa Cao Cấp Chuyên Môn.

Đáp ứng với sự phát triên đào tạo Cán Bộ Chỉ Huy cho Quân Lực cùng nhu cầu địa thế thích hợp cho các băi và sân tập thực hành cùng xạ trường, ngày 04 tháng 4 năm 1974, Trường Bộ Binh từ Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn Khu Long Thành (doanh trại cũ của  Sư đoàn Măng Xà-Quân Đội Thái Lan).

Tuy nhiên theo tài liệu [3] : Cuối năm 1973, Trường Bộ Binh Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn Khu Long Thành .

Theo tài liệu [10] : Cơ sở mới này nằm bên cạnh quốc lộ 15, đuờng Sàig̣n - Vũng Tàu và cách quận lỵ Long Thành 5 cây số. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi là Chỉ huy truởng Truờng Bộ Binh kiêm Chỉ huy trưởng Huấn Khu Long Thành.

Theo tài liệu [5] :  Mặc dù dọn ra Long Thành cả năm mà không hiểu sao chẳng mấy ai gọi là Trường Bộ Binh Long Thành. Người ta cứ quen miệng gọi là Trường Bộ Binh Thủ Đức và có người vẫn cứ gọi là Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Quá khứ không phải là dĩ văng, quá khứ nhập vào hiện tại. Có lẽ quá khứ vẫn là một cái ǵ đẹp như mối t́nh đầu chăng? 

Đầu tháng 4 năm 1974, trước khi Trường Bộ Binh Thủ Đức dời đi Long Thành,Trường  đă bàn giao Huấn Khu Thủ Đức lại cho Đại Tá Trần Văn Tự. Tân Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu gồm có các Trường sau đây : Tổng Quản Trị, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Nhạc, Vũ Thuật, Thể Dục, thêm Trường Pháo Binh từ Dục Mỹ và Trường Đại Học CTCT từ Đạ Lạt rút về.

Trường Bộ Binh dọn ra Long Thành cách Sàig̣n 30 cây số về phía Đông. Trường mới rộng hơn trường cũ, tọa lạc trên 1 khu đất vuông vức mỗi bề một cây số nằm bên trái Quốc Lộ 15 từ Sàig̣n đi Vũng Tàu. Nơi này kém an ninh hơn Thủ Đức v́ gần mật khu An Viễn nên ban đầu nhà trường dành ưu tiên việc tổ chức pḥng thủ, sau đó mới xây dựng các tiện nghi huấn luyện và đời sống, tạo nên cơ sở khang trang, oai nghi xứng đáng với một Quân Trường của thanh niên Việt Nam

Ở Long Thành, Trường Bộ Binh nằm kế bên Trường Thiết Giáp và Trung Tâm Huấn Luyện của Lực Lượng Đặc Biệt. Ba Quân Trường họp thành Huấn Khu Long Thành đặt dưới quyền chỉ huy của vị Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh.

Cuối năm 1974, Trường đă tiếp nhận 1.000 người (SVSQ) thuộc quân chủng Không Quân đang học tại Hoa Kỳ phải bỏ dở về nước để huấn luyện thành Sĩ Quan Bộ Binh, lư do Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ. Cùng lúc này c̣n có các Sĩ Quan theo học các lớp khác nhau, ước lượng 500 người từ cấp Chuẩn Úy đến Trung Tá.

Đầu tháng 4 năm 1975, Trường Bộ Binh có khoảng 4.000 SVSQ Trừ Bị thuộc các Khóa gối đầu nhau.

Giữa tháng 4 năm 1975, Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam do  Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ rút về đây với số SVSQ và cơ hữu khoảng 500 người do Trường Bộ Binh yểm trợ hành chánh và tiếp vận và đă tổ chức măn Khóa cho 2 Khóa 28 Nguyễn Đ́nh Bảo và 29 Hoàng Lê Cường Sĩ Quan Hiện Dịch vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, Đại Diện Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa .

 

Trường Bộ Binh di tản chiến thuật về lại Thủ Đức :

Ngày 21 tháng 4 năm1975, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, lúc này Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ thôi giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Vơ Bị Quốc Gia, Tổng Cục Quân Huấn chỉ định Đại Tá Lộ Công Danh, Liên Đoàn Trưởng SVSQ Trường Bộ Binh XLTV CHT Trường Vơ Bị. Toàn thể SVSQ Trường Bộ Binh và Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Trần Đức Minh di chuyển về lại Thủ Đức. C̣n ở lại Long Thành một Bộ Tham Mưu thu hẹp và khối yểm trợ công vụ với Đại Tá Lê Văn Phú, Tham Mưu Trưởng Trường Bộ Binh.

 

Trận chiến ở Huấn Khu Long Thành : 

Theo tài liệu [10] :   Cũng vào đầu tháng 4, 1975, cộng quân bắt đầu gia tăng áp lực, mở các cuộc tấn công vào Huấn khu Long Thành. Bọn đặc công việt cộng đă mấy lần định xâm nhập Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế, nhưng đă bị Biệt Kích Lôi Hổ tiêu diệt gọn. Truờng Thiết Giáp cũng bị tấn công liên tục, nhung nhờ tài chỉ huy khéo léo với nhiều kinh nghiệm chiến truờng của Đại tá Tám, nên đã giử vững đuợc căn cứ này cho đến cuối cùng.

Đến đầu tháng 4 năm 1975 (Đến giữa tháng 4 theo tài [3] ) , Trường Bộ Binh lại dọn về Thủ Đức.

Ngày 22 tháng 4, 1975 Truờng Bộ Binh và Truờng Vơ Bị Quốc Gia đuợc lệnh di tản về Thủ Đức. Trường Bộ Binh chỉ di tản một nửa quân số về Thủ Đức, c̣n một nửa quân số ở lại Long Thành để giử trường chờ ngày trở lại.

Đêm  26 tháng 4 năm 1975, trong đêm, sư đoàn 304 cộng sản Bắc Việt bắt đầu mở cuộc tấn công đại qui mô vào Huấn Khu Long Thành mà bọn chúng gọi là Nước Trong.

Các cuộc tấn công  của chúng rất là ác liệt nhưng không chọc thủng nỗi pḥng tuyến quá kiên cố của Trường. Địch đă lọt vào nội vi Trường Bộ Binh nhưng  bị đánh bật ra Trường Thiết Giáp  đă gây cho bọn cộng sản thiệt hại nặng nề. Nhưng sau đó ,Trường Thiết Giáp  bị thất thủ .  Đại tá Tám Chỉ huy truởng Trường Thiết Giáp vừa mới qua hợp ở Trường Bộ Binh, trên đường về ông đã bị cộng quân phục kích và bị mất liên lạc vào khoảng 6 giờ chiều. Đại Tá  Lê Văn Phú Chỉ Huy Trưởng đă xin Tổng Cục Quân Huấn rút bỏ bộ phận c̣n lại của Trường Bộ Binh ở Long Thành v́ lúc này không c̣n trông cậy ở Bộ Tư Lệnh Quân Khu 3 nữa. Trung tâm Huấn luyện Yên Thế hoàn toàn bị mất liên lạc kể từ chiều hôm đó.

Theo tài liệu [10] :  Đêm qua, lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của chi khu Long Thành đã anh dũng chiến đấu chống trả quyết liệt, bắn cháy một số chiến xa địch, cầm cự cho đến sáng mới bị tràn ngập. Trung tá Quận Trưởng quận Long Thành đã chạy thoát đuợc ra ngoài và dùng máy vô tuyến liên lạc về Tiểu khu xin cứu viện.

Truờng Thiết Giáp đã thất thủ, Trung tâm Huấn Luyện Yên Thế đã mất liên lạc, quân Long Thành đã bị tràn ngập, giờ đây Trường Bộ Binh Long Thành đuơng nhiên trở thành tiền đồn ngăn chặn địch mà cộng quân quyết phải thanh toán cho bằng đuợc để tiến thẳng về Sàig̣n.

Ngày 27 tháng 4 năm 1975, Trường lại được lệnh di tản chiến thuật về Tăng Nhơn Phú,Thủ Đức,Gia Định để nghênh cản địch quân dưới quyền điều động của Đại Tá Liên Đoàn Trưởng Lộ Công Danh.

Trưa 27 tháng 4 năm 1975, Đại Tá Trần Đức Minh Chỉ Huy Trưởng ngồi ở Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Biên Ḥa để điều khiển cuộc triệt thoái bộ phận c̣n lại của Trường Bộ Binh ở Long Thành về Thủ Đức.

Lúc này Trường Bộ Binh có khoảng 6.000 người gồm SVSQ và quân nhân cơ hữu.

Cùng lúc này nhận được chỉ thị của Tổng Cục Quân Huấn điều động Trường Bộ Binh làm nhiệm vụ pḥng thủ Sàig̣n.

Bộ Tham Mưu Trường cho tổ chức lại các Tiểu Đoàn SVSQ, lập Bộ Tham Mưu và hai Liên Đoàn tác chiến, mỗi Liên Đoàn 2.500 người, trang bị các loại vũ khí huấn luyện, chia ra làm 3 tuyến pḥng thủ Trường cùng một lực lượng trừ bị chờ rút về Sàig̣n.

Trong đêm đó, 27 tháng 4 năm 1975, cộng quân tấn công dữ dội quyết thanh toán cho bằng đuợc Trường Bộ Binh Long Thành, nhưng đã bị lực luợng pḥng thủ của Trường chống trả quyết liệt. Măi cho đến sáng th́ Đại tá Lê Văn Phú Chỉ Huy Trưởng cho biết là t́nh h́nh rất là nguy ngập không thể nào chống đở nỗi nữa vì cộng quân quá đông, cho nên sau cùng ông đành phải ra lệnh cho rút lui theo như kế hoạch đã định.

 

Việc bổ nhiệm Đại Tá Trần Đức Minh, Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Trường Bộ Binh  Theo tài liệu [5] :

Cuối tháng 3 năm 1975, t́nh h́nh quân sự nguy kịch sau khi Quân Đoàn II và I tan ră. Lúc bấy giờ, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bố trí lại thành một ṿng cung bảo vệ Sàig̣n với các chốt chiến lược: Phan Rang, Xuân Lộc và Tây Ninh.Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tự nguyện ra làm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III trực tiếp phối hợp các lực lượng tiền tiêu ở Phan Rang nên chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh bị khuyết.

Nhân dịp này,  Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Phụ Tá Quân Huấn Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn đă đề nghị theo một cách khác thường là chỉ đề nghị duy nhất Đại Tá Trần Đức Minh, Chỉ Huy Phó lên thay Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh.

Khoảng thời gian này Miền Nam Việt Nam của chúng ta đă lâm vào cảnh vô cùng ngặt nghèo nhưng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn không dễ dàng chấp thuận. Tổng Thống đă tham khảo ư kiến một số tướng lănh trước đây là cấp Chỉ Huy trực tiếp của Đại Tá Minh, kể cả Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi. Đại Tá Minh nhớ không lầm khoảng ngày 01 tháng 4, Tướng Nghi từ Dinh Độc Lập về bảo Đại Tá Minh làm biên bản bàn giao. Sáng hôm sau Đại Tá Minh nhận được công điện từ Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu cho biết Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa đă bổ nhiệm Đại Tá Minh làm Chỉ Huy Trưởng , Sắc lệnh sẽ ban hành sau.

Có lẽ cũng là số mệnh cả. Không hiểu sao Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng tỏ ḷng ưu ái với Đại Tá Minh chẳng kém ǵ Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị mặc dù  Trung Tướng Nghi và Đại Tá Minh quen biết nhau từ khi Trung Tướng Nghi về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh.

Đại Tá Minh nhận chức Chỉ Huy Trưởng ngày 04 tháng 4 năm 1975, lành th́ ít mà dữ th́ nhiều. Biết vậy nhưng Đại Tá Minh vẫn nhận v́ đối với Đại Tá Minh không có chuyện vận động xin xỏ và quân lệnh như sơn, được chỉ định th́ làm. Vả lại Quân Đội là của Tổ Quốc, không phải của riêng ai. Mỉa mai thay ! Cái Sắc Lệnh ấy của Tổng Thống chẳng thấy đâu mà Việt Nam Cộng Ḥa cũng chẳng c̣n đâu nữa!

Cho đến ngày 28 tháng 4, độc nhất chỉ có Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn đôi lúc điện thoại nhắc nhở Đại Tá Minh rằng: “Anh là một Sĩ Quan Trừ Bị đầu tiên được chỉ định vào chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trưởng Sĩ Quan Trừ Bị của QLVNCH nên phải tỏ ra xứng đáng và trong bất cứ trường hợp nào cũng phải xử sự thích ứng”. Đại Tá Minh tŕnh lại  TrungTướng Nguyễn Bảo Trị là: “Tôi sẽ làm đúng nhiệm vụ của tôi”.

 

Trận chiến cuối cùng tại trường Bộ Binh Thủ Đức  :

Theo tài liệu  [5] & [10] :  Sáng  ngày 30 tháng 4 năm 1975, hồi 8 giờ, pháo của cộng sản Bắc Việt đặt ở Nhơn Trạch lác đác nă vào Trường Bộ Binh. Vào lúc 8 giờ 30, Đại úy Hiếu, Tiểu đoàn truởng Tiểu đoàn 5/SVSQ/TBB đang chỉ huy pḥng tuyến mặt xa lộ báo cáo là thấy đoàn xe thiết giáp và xe motolova của Cộng quân đang di chuyển trên xa lộ tiến về Sàig̣n. Theo như kế hoạch đã định th́ cầu Đồng Nai phải bị giật sập không cho thiết giáp và cơ giới của việt cộng vuợt qua sông. Nhưng kế hoạch này không được thi hành bởi v́ Trung tâm Hành quân/BKTĐ không ra lệnh dứt khoát mà chỉ nói là tùy nghi đơn vị. Không một chút do dự, Đại tá Trần Đức Minh liền xác quyết trách nhiệm một cách rất rơ ràng là: “Bổn phận của chúng ta là quân đội là phải bảo vệ đất nước, thấy địch là đánh”.

 Đài quan sát báo cho biết có 4 chiến xa T54 của cộng sản Bắc Việt lồng lộn từ Biên Ḥa theo xa lộ về Sàig̣n tiến nhanh về phía quân trường Thủ Đức. Trung Tâm Hành Quân báo Biệt Khu Thủ Đô song không ai trả lời. Đại Tá Trần Đức Minh ra lệnh mọi loại pháo binh bắn chặn quyết liệt về hướng Đông, ngược lại pháo địch ầm ầm nhă đạn vào Thủ Đức.  Đài quan sát báo cáo xe tăng địch xuất hiện khu nhà máy lọc nước ngă tư Thủ Đức đang lăm le tiến vào chợ Nhỏ. Lệnh Bộ Chỉ Huy đưa các xe ra làm vật ngăn cản không c̣n kịp nữa. Có tiếng hỏa tiễn M72 chống tăng nổ ở cổng trường. Pháo cùng đại liên nơi xe địch liên tục nổ. Ba (3)  trong bốn (4) chiến xa bị bắn cháy ngay tại bờ rào kẽm gai nơi cổng Trường bởi pháo binh 105 ly trực xạ. Chiếc chiến xa T–54 c̣n lại vượt thoát, ủi sập chướng ngại vật ở cổng chính, chạy thẳng vào trung tâm trường Thủ Đức dùng đại liên 50 trên pháo tháp bắn sối xả  loạn xạ vào lực lượng pḥng thủ khiến TrungTá Ông Văn Tuyên, Trung sĩ nhứt Nhân, và 5 sinh viên sĩ quan tử thương, Thiếu tá Vương Bá Thuần và 9 người khác bị thương.

Trong khi đó th́ súng đại liên ở cầu Bến Nọc mà việt cộng vừa chiếm đuợc, bắn xối xả vào truờng ở phía cổng số 9 tức cổng sau của Truờng Bộ Binh.

SVSQ chỉ có súng cá nhân M16 nhắm xe tăng T54 bắn  trả dử dội tóe lửa vào chiếc chiến xa nhưng không diệt đuợc nó. Súng trên pháo tháp của xe tăng này quay qua bắn sập Trung Tâm Hành quân, v́ trên nóc có nhiều cần ăng ten nên dễ nhận, Thiếu tá Lầu thuộc Trường Tổng Quản Trị đang ở trong đó may mắn thoát nạn. Trong khi đó Đại tá Minh cùng bộ chỉ huy nhẹ đang ở cách đó không xa . Khi chiếc xe tăng này chạy xuống tới cổng số 9 th́ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của các SVSQ do Thiếu tá Long chỉ huy giử mặt hậu của Truờng Bộ Binh nên quay đầu chạy nguợc lại ra cổng  chính (số 1).Nó vừa chạy vừa bắn phá loạn xạ , t́m đường tẩu thoát . Đại Tá Minh ra lệnh Đại Đội Trưởng 663/ĐPQ dùng hỏa tiễn M72 hạ tăng. Sau 10 phút xe tăng đứt xích, lết ra tới Niệm Phật đường Quảng Đức, chợ Nhỏ ,chúng quay pháo tháp vào Trường tiếp tục bắn phá làm chết và bị thuơng một số chiến hửu trong đó có Thiếu tá Vuong Bá Thuận bị găy chân, Trung tá Ông Nguyên Tuyền bị tử thuơng v.v…

 

A duong-cho-nho

Đường Chợ Nhỏ Thủ Đức-H́nh trích từ  tài liệu [4] 

 

Trước t́nh trạng nan giải này, hai tân khoá sinh, mỗi người t́nh nguyện mang 4 trái lựu đạn lân tinh, ḅ ra ngoài để tiêu diệt chiến xa địch. Trong lúc chiếc T54 cộng sản đang nhả đạn vào trường, hai khoá sinh nói trên đă leo lên chiến xa, thả lựu đạn lân tinh vào trong pháo tháp khiến chiến xa địch phát hỏa, đạn trong pháo tháp phát nổ tung.

Chiến tích dũng cảm của hai tân khoá sinh không những đă làm mọi người phải ngưỡng phục mà c̣n nói lên cái khả năng chiến đấu siêu việt cũng như ư chí bất khuất và quyết thắng của Sinh viên sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức.

Mặt khác,theo tài liệu [10] :   Khi đó có một SVSQ thuộc Tiểu đoàn 1/SVSQ, đây là Tiểu đoàn của binh chủng Không Quân gởi sang học quân sự, đang ở pḥng tuyến gần đó nhanh nhẹn ḅ ra leo lên pháo tháp và liệng một quả lựu đạn vào bên trong xe tiêu diệt hẳn. Đại úy Ngữ lục soát trong xe lấy đuợc ba khẩu súng c̣n đang bốc khói mang lên tŕnh Đại tá Chỉ huy truởng . Đại Tá  Minh được báo cáo xe tăng cộng sản bị diệt, toàn thể đám lính trong xe tăng đều chết  hết v́ tất cả chúng  đều bị khóa chân trong xe. Sau kiểm tra lại, người SVSQ ấy thuộc Đại Đội 12 Tiểu Đoàn 1 SVSQ Không Quân do Trung Úy Trần Hữu Thọ làm Đại Đội Trưởng. Rất tiếc không ai nhớ được tên SVSQ này.

Vào lúc 10:20g sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống vài ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa, đă ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng.

Lúc này có viên sĩ quan đứng cạnh Đại Tá Minh mở radio nghe và hốt hoảng la lên đầu hàng rồi. Đại Tá Minh rụng rời nghe Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng ra lệnh ngưng nổ súng và bàn giao cho quân Bắc Việt ngụy danh giải phóng Miền Nam.

Được lệnh đầu hàng, Đại tá Minh lệnh cho Đại Úy Nguyễn Ngọc Thạch gọi tất cả các đơn vị ngưng chiến đấu. Mọi người đều rơi nước mắt. Có người ̣a khóc khi nghe tin này. Đại Tá Minh nói: “Nhiệm vụ chúng ta là quân đội phải tuân lệnh Thượng Cấp”.

Tất cả cán bộ cũng như sinh viên, khoá sinh Trường Bộ Binh Thủ Đức  , không ai bảo ai, đă lần lượt giă từ vũ khí, về với gia đ́nh.

Một giờ sau, đại diện cộng sản đến gặp Đại Tá Minh bảo bàn giao Huấn Khu . Cấp chỉ huy không c̣n ai, tất cả đều thay áo quần và bỏ đi hết rồi. Đại Tá Minh với tư cách Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu bàn giao cho họ số vũ khí bắt được trên chiếc xe tăng bị bắn cháy và nói với họ lo chôn cất những người chết trong chiếc xe tăng đó. Hôm đó phía nhà trường có một số SVSQ và quân nhân cơ hữu thương vong, trong số bị chết có Trung Tá Tuyền thuộc văn pḥng Phụ Tá Kiểm Huấn Trường Bộ Binh và Thiếu Tá Thuận bị găy chân

Hiện diện bàn giao có chừng vài trăm người, mặt mày ngơ ngác, bần thần. Loáng thoáng một cái không c̣n ai mặc quân phục nữa. SVSQ mặc đồ dân sự lủi thủi lê chân ra phía cổng chính. Đại Tá Minh bùi ngùi nh́n theo tủi hổ. Chiều hôm đó Đại Tá Minh trút bỏ quân phục và được yêu cầu nghỉ riêng trên lầu của tư dinh Chỉ Huy Trưởng trong khi Bộ Chỉ Huy quân Bắc Việt đóng dưới lầu. Đêm đó Đại Tá Minh lên cơn sốt, chập chờn nửa tỉnh nửa mê. Đại Tá đă khóc thật nhiều.

 

Phần 2 : Nhiệm vụ chính 

Theo tài liệu [9] :  Trường Bộ Binh Thủ Đức có những nhiệm vụ chính sau đây  :

ü  Huấn luyện SVSQ Trừ Bị thường xuyên và SVSQ Trừ Bị Đặc Biệt;

ü  Huấn luyện quân sự cho các Khóa Sĩ Quan Quân Y và các Khóa Y, Nha, Dược Sĩ trưng tập ;

ü  Huấn luyện các Khóa Bộ Binh Trung Cấp (nguyên là Khóa Đại Đội Trưởng) và các Khóa Bộ Binh Cao Cấp (nguyên là Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp) ;

ü  Huấn luyện các lớp đào tạo Huấn Luyện Viên ;

ü  Kể từ đầu năm 1974, Trường đă tổ chức huấn luyện thêm các Khóa Bổ Túc Sĩ Quan Tham Mưu Tiểu Khu và Chi Khu cũng như Quân Sự tổng quát cho các Khóa Cao Cấp Chuyên Môn ;

ü  Ngoài nhiệm vụ chính như trên, Trường Bộ Binh c̣n nhận nhiệm vụ huấn luyện một số Khóa học hoặc chương tŕnh khác do Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn giao phó.

 

 

Phần 3 : Chương tŕnh đào tạo : 

Theo tài liệu [5] & [9] :

 Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có liên quan đến quân đội Pháp và Hoa Kỳ. Do đó, theo lịch sử, các Khóa đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị được ghi nhận có sự liên đới như sau:

1. Từ Khóa 1 đến Khóa 5 :

– Dùng sinh ngữ Pháp và học theo binh thư Pháp.

– Học về cơ bản thao diễn và chào kính theo Quân Đội Pháp.

– Học các loại vũ khí và ḿn bẫy của Pháp.

2. Từ Khóa 6 về sau :

– SVSQ học tiếng Việt.

– Học về cơ bản thao diễn và chào kính theo Quân Đội Mỹ.

– Các đề tài huấn luyện một số môn học theo binh thư Mỹ.

– Các loại vũ khí và ḿn bẫy đều của Mỹ.

Riêng các môn học về Dẫn Đạo Chỉ Huy, Chiến Tranh Chính Trị được rút tỉa những điểm hay của Quân Đội Pháp và Mỹ họp với các điểm sáng tạo qua sách lược của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa để huấn luyện khi tốt nghiệp người Sĩ Quan có khả năng ḥa ḿnh cùng đồng bào để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân.

Riêng môn học Chiến Thuật áp dụng theo binh thư Mỹ về nguyên tắc, song Quân Trường rút tỉa kinh nghiệm từ chiến trường Việt Nam, tham khảo qua Bản Tin Kinh Nghiệm Chiến Trường của Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn phổ biến, hầu phối hợp soạn thảo những phiếu huấn luyện thích hợp để các Sĩ Quan ra trường áp dụng thích nghi nơi trận tuyến.

 

Các giai đoạn học của sinh viên sĩ quan ,theo tài liệu [1] :

Chương tŕnh huấn luyện đào tạo sĩ quan chỉ huy Trung đội gồm có 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (18 tuần) :

Bộ binh căn bản, Tác chiến cá nhân;

 Cơ bản thao diễn, tác xạ, vũ khí cá nhân (Colt 45, Garand M1, tiểu liên Thompson, trung liên Bar, Carbine M1, M2, AR15, M16). Thủ lịnh các đội h́nh hàng dọc, hàng ngang, quả trám.

Theo tài liệu [11]  : Ngoài vũ khí cá nhân kể trên cón có đại liên, cối 60/81 ly, M79, M72 (chống tăng - “hỏa tiễn” cá nhân).

Học cách Chỉ Huy Tiểu Đội;

Gíai đoạn 2 (28 tuần) :

Tập chỉ huy Trung Đội. Chiến thuật trung đội. Vũ khí cộng đồng. Chiến thuật đánh đêm, đánh ngày, bố trí hỏa lực, các đội h́nh di chuyển khi hành quân, khi pḥng thủ, dừng quân, hành quân đổ trực thăng, tùng thiết Thiết giáp, vượt sông, phục kích, tao ngộ chiến, xa luân chiến…

Học Chiến Tranh Chính Trị, Quân Pháp, Lănh Đạo chỉ huy, giải tán biểu t́nh, bắt tù binh... Rèn luyện can đảm bằng ḅ hỏa lực bắn đạn thật, đi dây tử thần, tuột núi, vượt sông.

Vũ khí cộng đồng như: đại liên, súng cối 60ly, 81ly, súng phóng hỏa tiễn M72, M79...
Tuần lễ hành quân thực tập để ôn lại tất cả những môn học, được tổ chức bên ngoài các băi tập.Phải ghi thêm là trong năm 1969–1970, mấy chục sinh viên sĩ quan đă chết trên những băi tập do ḿn thật của cộng quân gài trên đường thực tập.

Quân sự là phương tiện của chính trị, sinh viên sĩ quan cũng được học về những điều sai lầm của chủ nghĩa cộng sản.

Bắt đầu Khoá 26, áp dụng phương pháp huấn luyện theo Bộ Binh Hoa Kỳ. Chương tŕnh học vẫn nội dung cũ, chỉ khác biệt ở phần huấn luyện thể chất. Cụ thể là di chuyển bằng cách chạy. Vất vả nhiều cho sinh viên sĩ quan hơn. Theo kiểu Hoa Kỳ không nổi, v́ thể chất của người Việt Nam nhỏ con hơn người Mỹ, do đó, có sự điều chỉnh cho hợp với thể trạng của người Việt Nam. Một sĩ quan cán bộ tốt nghiệp Fort Benning, anh Nguyễn Thượng Hà, sau một thời gian chạy theo đại đội, bị ngă gục v́ kiệt sức. Giải ngũ.

Các tân khóa sinh thụ huấn Khóa Sĩ Quan Trừ Bị tại Trường Bộ Binh sau 8 tuần lễ huấn nhục sẽ được gắn Alpha để trở thành SVSQ. Qua giai đoạn 2  (SVSQ năm thứ 2 ) cấp hiệu SVSQ ngoài chữ Alpha c̣n thêm 1 gạch.

Nhưng kể từ tháng 3 năm 1969, khi Huấn Thị trên ban hành cấp hiệu SVSQ, Trường Bộ Binh chỉ c̣n Alpha không thêm một gạch v́ thời gian đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị tại Trường Bộ Binh dưới một năm.

Cấp hiệu SVSQ Trừ Bị Trường Bộ Binh: Chữ Alpha bằng kim tuyến hay kim khí mạ màu vàng nằm trên nền cấp hiệu màu đen.

Cấp hiệu SVSQ có ba kiểu:

1. Cấp hiệu gắn trên cầu vai ngắn: với quân phục làm việc.

2. Cấp hiệu gắn trên cầu vai dài: với quân phục đại lễ, tiểu lễ, dạ hội hoặc đi phép.

3. Cấp hiệu gắn trên áo tác chiến: khi dùng quân phục tác chiến.

(Cấp hiệu trên đây cũng được dùng cho các SVSQ Trừ Bị thụ huấn tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH) .

 

 

Lễ gắn lon alpha-H́nh trích từ tài liệu [1] 

 

Sau đây là  hai hồi ức  về những  tuần lễ đầu tiên  tập tểnh bước vào trường Bộ Binh Thủ Đức viết bởi các cựu khóa sinh :

1-Cựu  khóa sinh  khóa 1/71 (trích từ tài liệu [13] ) :  

‘’ Mang tâm trạng thư sinh đang tự do phơi phới ngoài đời mà đặt chân vào quân trường th́ bất cứ h́nh ảnh nào trước mắt, ngó qua cũng thấy lạ, thấy khó chịu, thấy nhớ nhà, thấy rầu muốn chết. Trại lính, tuyến, giao thông hào , nhà thương, bệnh xá, hàng rào, băng ca,vũng nước, lùm cỏ, bụi hoa… nNhững ngày đầu mới ngó qua, sầu liền.

Hằng ngày, sau khi ăn sáng bằng bánh ḿ và chuối xứ, chúng tôi có hai địa điểm để đi học. Hoặc học tại Đại Giảng Đường (nhà tiền chế) hoặc tại băi. Mỗi lần Đại đội đi học băi th́ có một Tiểu Đội Súng Nặng lên phiên nai lưng ra mà vác súng, đạn Đại liên 30, Chân ba càng, Súng chống tăng M72, Súng phóng lựu M79, Cối 81 ly gồm nồng súng, đạn cối và bàn tiếp hậu. Những thằng to xác c̣n kêu ca huống hồ mấy thằng ốm yếu, nhỏ con, vác vũ khí mà mặt nhăn như khỉ ăn ớt. Thằng th́ vác chân ba càng,thằng vác đạn, thằng vác nồng trẹo vai ,một thằng nỗi cộc sủa dai: “Mẹ , đường ra băi sáng nay dài quá cha ! ‘’ .Đường ra băi phải đi qua cổng số 9 ở tuyến D. Cách tuyến này khoảng 2 cây số là đồn Bến Nọc dựng sát bên cầu Bến Nọc. Cầu bằng gỗ không quá 10 thước bắt ngang qua con suối, tuy giản dị nhưng rất nổi tiếng v́ có lần ban đêm Việt Cộng ṃ về gài ḿn gây thương vong cho một số SVSQ khóa 25 .

“Có bữa chúng tôi ra băi bắn học xử dụng súng nặng như Đại Liên M30, M72, súng Cối 80 ly, Đại Bác 105 ly không giựt và ném lựu đạn M26. Những loại vũ khí hạng nặng ác ôn

Chín tuần qua một cái vù .Thằng nào thằng nấy như tù được tha, thằng th́ ngồi thở hắt ra,thằng th́ sướng tít như là gặp tiên

Sau đó, Tân Khóa Sinh được làm lễ gắn Alpha tại Vũ đ́nh trường, hănh diện trở thành Sinh Viên Sĩ Quan trường Bộ Binh Trừ Bị Thủ Đức.

Hôm nay lễ gắn Alpha Diện đồ tiểu lễ ḿnh ra xếp hàng Vũ đ́nh trường nắng chang chang Mà sao ḿnh vẫn thấy man mác trời

Lúc này, SVSQ không phải bồng súng chạy nữa, mà đi đứng thong thả hơn, oai phong lẫm liệt hơn và có quyền tới phiên đi… bắt nạt đàn em. Huynh trưởng mà em! Thi hành trước khiếu nại sau. C̣n cơm nhà bàn nhiều anh chê, ra ăn cơm ngoài ở khu Gia Binh, khu Sinh Hoạt, hoặc khu Thiết Giáp, tuy tốn tiền nhưng ngon hơn, lại có nhạc để nghe và có các em để… nh́n lén cho đă thèm’’.

 

2-Cựu  khóa sinh ( khóa không rơ) ( trích từ tài liệu [11] ) :  

1. Ngày đầu bước vào quân trường :

•Từ đời sống thư sinh, mặt búng ra sữa! tự do, SVSQ tập bước vào không gian kỷ luật thép: tuyến, cổng gác, doanh trại, hàng rào, thao trường, đi đâu cũng phải chạy! đổ mồ hôi! (Bịnh lác bắt đầu hoành hành ) ;

•Cảm giác ban đầu thường là bỡ ngỡ, nhớ nhà, "nhớ em, nhớ mẹ!" thậm chí “sầu rầu muốn chết! muốn đào ngũ!”. Nhưng chính sự khắc nghiệt ấy, tạo nên bước chuyển đổi đời, từ dân sự sang người lính! rồi...say mê với lư tưởng .

2. Huấn luyện gian khổ nhưng đầy tự hào :

•Học đủ các môn căn bản và trung cấp: bắn súng cá nhân, súng cộng đồng, cối 60, 81 ly, hỏa tiễn chống tăng M72, phóng lựu M79, kỹ thuật đánh "sáp lá cà", vượt sông, hành quân đêm, ḅ dưới lửa đạn, leo dây tử thần…;

•Ra thao trường, những khẩu súng nặng đè oằn vai, khiến SVSQ nhỏ con nhăn mặt như “khỉ ăn ớt”, nhưng vẫn phải cố gắng vác ṇng, vác đạn, vác chân ba càng, bàn tiếp hậu, để ra băi, tập bắn;

•Có bữa tập bắn, trúng hay trật đều để lại tiếng cười, tiếng khen chê. Trời nắng chang chang, mà nhiều người vẫn ví như đang “bắn từng tia nắng thù ”;

3. Kỷ niệm với đồng đội :

•Đoàn kết trong gian khổ: chia nhau điếu thuốc Bastos xanh, đỏ, chung nhau một ly cà phê, nhường nhau miếng ăn, cùng cơng vũ khí hạng nặng ;

•Những đêm canh gác, nghe chuyện đồng hương ngoài Trung vào, kể ước mơ ra trường sẽ chọn đơn vị nào: Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Quân Cảnh…để “bắt tụi bay, nhốt hết vào đồn ” ;

•Có những lần di hành ra cầu Bến Nọc, nơi từng bị việt cộng gài ḿn giết hại đàn anh, ai cũng bồi hồi tưởng niệm .

4. Lễ gắn Alpha- niềm hănh diện tuổi trẻ khó bao giờ quên :

•Sau 9 tuần “làm tân khóa sinh” đầy gian khổ, được chính thức gắn Alpha tại Vũ Đ́nh Trường. Đêm trước, ḷng nao nao, không thể chợp mắt  ngày hôm sau...;

•Dù nắng chang chang, SVSQ vẫn thấy lâng lâng hănh diện, v́ từ nay, đă là sĩ quan tương lai của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ;

•Cảm giác được đứng thẳng người trong bộ lễ phục ủi hồ thẳng tắp, nghiêm chỉnh, oai phong, là dấu ấn khó phai trong trí nhớ cả đời lính ;

5. Những phút thư giăn hiếm hoi :

•Ngoài giờ huấn luyện, SVSQ hay rủ nhau xuống khu gia binh, khu sinh hoạt. Ở đó có quán ăn, có nhạc, có ánh đèn mờ, có “bóng hồng thấp thoáng, có em gái hậu phương dễ thương!” để nh́n lén, để mơ mộng, để quên đi phần nào nỗi cực nhọc ;

•Cơm nhà bàn tuy đủ ăn, nhưng nhiều người (có chút tiền) thích ăn ngoài, v́ vừa ngon hơn, vừa “có nhạc du dương để nghe, có em để ngắm ”, sướng...rên mé đ́u hiu .

6. Những bài học để đời :

•Từ kỷ luật sắt của quân trường, người lính học được tính kiên nhẫn, chịu đựng, gắn bó đồng đội “ huynh đệ chi binh! sống chết, có nhau ” ;

•Mỗi bài tập, mỗi thao trường, mỗi lần hành quân dă ngoại… đều trở thành kư ức không thể nào quên, hun đúc nên ư chí và tinh thần chiến đấu cho Tổ Quốc ;

Thời gian huấn luyện ở Trường Bộ Binh Thủ Đức với nắng cháy thao trường, mồ hôi ḥa lẫn nước mắt, t́nh đồng đội keo sơn, và niềm kiêu hănh khi khoác áo Alpha… đă trở thành chuỗi kỷ niệm quư báu, thân thương, sống măi trong tim người sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ,một giai đoạn rèn luyện đáng nhớ nhất của đời binh nghiệp.Những kỷ niệm này gần cuối đời mà sao vẫn nhớ , không thể nào quên’’.

 

Từ khóa 1 đến khóa 5, các tân quan tốt nghiệp  mang  cấp bậc Thiếu Úy . Nhưng từ khóa 6 trở về sau, khóa sinh tốt nghiệp chỉ mang cấp bậc Chuẩn Úy .

 

Và sau đây là  hồi ức của một  cưu sinh viên sĩ quan  viết về những ngày tháng thụ huấn gian lao tại Trường Bộ Binh Thủ Đức để có được cặp lon Chuẩn Úy (trích từ tài liệu [14]).

V́ nhu cầu chiến tranh, đất nước ta dậy lên làn sóng nhập ngũ. Các trung tâm huấn luyện quân sự, bán quân sự và cán bộ, công chức được thành lập trên khắp bốn vùng chiến thuật. Tác giả bài này , vào một ngày trung tuần tháng 12 năm 1970, đă  đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ  để  thụ huấn giai đoạn 1 của Tân Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan Khóa 6/70 Sĩ Quan Trừ Bị của Trường Bộ Binh Thủ Đức.

 ‘’  Sau  gần 3 tháng ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ,chúng tôi măn khóa học (giai đoạn 1)  , hôm sau lên Trường Bộ Binh Thủ Đức  để tiếp giai đoạn 2.

Xe GMC chở chúng tôi vào Trường Bộ Binh Thủ Đức khoảng 1 giờ trưa.

Đoàn xe lần lượt ngừng trước “Đại Hỏa Ḷ” (Vũ Đ́nh Trương). Nh́n chung quanh, những huynh trưởng người nào người nấy rất “quặm xị”, hiên ngang, cứng cỏi. Một anh đứng trên bục cao trước “Đại Giảng Đường” hô to : “ba mươi giây xuống xe”.

Sau đó theo huynh trưởng, vừa chạy vừa đếm một, hai, ba, bốn ‘’ Chạy”. Một huynh trưởng sạm đen, gân guốc truyền lệnh thốc vào tai inh ỏi. Mới hơn nửa ṿng Vũ Đ́nh Trường đă có nhiều người ḅ, lết, ngă… “Một, hai, ba, bốn”, huynh trưởng cứ chạy, cứ đếm và “ to lên, to lên”. Đàn em cứ chạy, cứ đếm nhỏ dần, nhỏ dần và hết đếm nổi. Một Đại Úy ốm, cao, cẳng c̣ cùng một Chuẩn Úy lùn xủn, nhỏ con với vài anh huynh trưởng phụ họa, dắt chúng tôi về doanh trại. Người ta giới thiệu rằng, chúng tôi thuộc Tiểu Đoàn 3, Đại Đội 37.

Đại Đội có 141 người, nhiều nhất là các Kỹ Sư Nông Lâm Súc, các Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, rồi tới các Phó Đốc Sự Hành Chánh, các Biên Tập Viên Cảnh Sát Quốc Gia, lẻ tẻ một, hai anh Hải Quân, Không Quân,…Học xong, họ sẽ về lại đơn vị cũ. Số c̣n lại là những Sinh Viên Sĩ Quan thuần túy gồm những anh em trẻ có Tú Tài 1, anh em gốc Nghĩa Quân, anh em Thượng, anh em Thiếu Sinh Quân…được đặc cách thụ huấn.

 

Chúng tôi bắt đầu cho “Giai Đoạn Huấn Nhục”. Các huynh trưởng làm dữ lắm. Đằng kia nghe “năm mươi cái nhảy xổm”, “ một trăm cái bơm”. Nơi nọ nghe“lăn bột”, “đổ tường”. “đếm số”. Chỗ khác “lớn lên’’. Nơi đây là Trường Bộ Binh không phải Trường Nữ Quân Nhân? .

·        “Nhảy xổm” là hai bàn tay để trên đầu hay sau ót, hai cùi chỏ tay căng ngang ra, khi nhảy th́ một chân đánh xoạt ra trước đồng thời một chân đá hễnh ra sau, miệng đếm một, hai, ba…;

·        ”Cái bơm” là hít đất, khi lên hay xuống th́ toàn thân thẳng băng lên xuống theo, không được đầu ngóc mà đít nằm ;

·        Có những huynh trưởng “đày”, “chơi” đàn em th́ bắt “dang hai tay xa ra xa ra, dang hai chân xa ra xa ra. Chỉ có chống cũng đủ chết, đừng nói hít với hun ;

·        “Lăn bột” là nằm hẳn người xuống đất mà “lăn” tới đằng kia, “lăn” lui đằng nầy. Tôi bị “lăn bột” sau vài ngày tới đây. Lăn qua lăn lại trên đống “xà bần” là những gạch, ngói, ciment, vôi. gỗ…lúc đang chỉnh trang doanh trại ;

·        “Đổ tường” là động tác ở thế nghiêm, thẳng người ngă đổ ra trước, đến độ nghiêng từ 60 độ trở lên mới được bung tay ra chống đất ;

·        “Đếm số” là một huynh trưởng đứng từ xa, xa nữa, xa nữa, bắt đàn em xa nữa, xa nữa đếm một, hai, ba, bốn…đến khi nào huynh trưởng nghe được. Mà bao giờ huynh trưởng nghe được ?

·        Dắt xuống pḥng ăn của SVSQ, các huynh trưởng la to : “Ba mươi giây. Mời đàn em dùng cơm”. “Mời huynh trưởng dùng cơm”, chúng tôi đáp lại. “Ba mươi giây”, chúng tôi, người th́ lấy tô canh có vài lá cải bẹ với ít miếng thịt ba rọi chan đại vào chén cơm để nuốt cho mau; Người th́ lấy ấm nước nóng đổ đầy vào chén cơm “ực” nhanh cho no bụng, để kịp giờ. “Đứng”, các huynh trưởng quát lớn. “Dậy”, chúng tôi đồng thanh hô to. Xong một bửa cơm chạy giặc !

 

Khóa 6/70 chúng tôi có hai khóa 1/71. Một khóa 1/71 Đặc Biệt lẻ ra “đàn em” lại “huynh trưởng” v́ họ đến đây khi chúng tôi c̣n ở Quang Trung và một khóa 1/71 Thuần Túy đàn em là đàn em. Lính mới “ṭ te” chỉ được quanh quẩn trong khuôn viên Đại Đội, không được ra ngoài. Đi đâu cũng nhờ thằng bạn cùng xóm ở quê, đang theo học Khóa 1/71 Đặc Biệt vào xin Sĩ Quan Cán Bộ Đại Đội dắt đi, tránh các huynh trưởng “xơi tái” đủ món, đủ kiểu để “làm oai”, cũng mệt.. “Tránh voi không xấu mặt nào” mà.

Các huynh trưởng đang “hành” chúng tôi là “siêu huynh trưởng” Khóa 5/70, có bảng tên nền đen chữ đỏ, đóng ở Khu Thiết Giáp. Khóa 6/70 của chúng tôi, nền vàng chữ đỏ. Họ “quậy” chúng tôi từ 5 giờ sáng đến 11 giờ khuya, “quay” chúng tôi bằng hết thẩy sáng kiến lật lộng, tinh ma, quỷ quái… cho đàn em “biết lễ độ”. Nào là “xin mặt trời hăy ngũ yên” ; Nào là “những bước chân âm thầm”; Nào là “đường c̣n dài nhưng chân cứng đá mềm”…:

ü  ”Xin mặt trời hăy ngủ yên” là nằm xuống, tréo cẳng chữ ngũ, đầu kê trên hai bàn tay đan lại bên dưới, mặt nh́n thẳng lên trời, miệng đọc “xin mặt trời hăy ngủ yên”, “xin mặt trời hăy ngủ yên” như thằng khùng ;

ü  “ Những bước chân âm thầm” là đi ḷ ṃ như người đui, từng bước ngắn thật ngắn, miệng cứ hét “những bước chân âm thầm”, “những bước chân âm thầm”;

ü  ‘’ Đường c̣n dài nhưng chân cứng đá mềm” là chạy, nhảy, đi, dậm trên sạn sỏi, đá, gạch mà miệng th́ cứ lẩm bẩm “đường c̣n dài nhưng chân cứng đá mềm”, “đường c̣n dài nhưng chân cứng đá mềm”.

 Người ngoài dân sự bước vào, thấy chắc buồn cười dữ, tự hỏi “có phải nhà thương điên Biên Ḥa?”. Đây là quân trường, là thời gian huấn nhục, để tập cho một Sĩ Quan tương lại chịu đựng, nên những chuyện phạt “lạng quạng” “không giống con giáp nào” là “ba cái lẻ tẻ” bất luận trúng, trật mà không quân trường nào không có.

 

 Đại đội 37 của tôi nằm sát đại đội 38 và 31, sau văn pḥng Liên Đoàn, trên con đường về Pḥng Ăn Sinh Viên và Khu Sinh Hoạt Cổng Số 9. Ngoài Khu Sinh Hoạt Thiết Giáp nổi tiếng ăn ngon, rẻ tiền nằm sát Tuyến C, nhà trường c̣n có khu sinh hoạt khác nữa là Khu Sinh Hoạt cuối Tuyến B nằm trước các Đại Đội 32 và 33, có các mả vôi lùm lùm phía trước. Khu sinh hoạt nầy bán những bút chỉ văn pḥng, chụp h́nh…Nhờ đó, tôi c̣n những tấm h́nh mặc đồ đại lễ, cầm kiếm và đặc biệt mua được những băng vệ sinh phụ nữ lót đầu gối khi quỳ Lễ Gắn Alpha và Lễ Ra Trường.

 Ai ai cũng biết, sân Vũ Đ́nh Trường đầy sỏi đá vụn, đầu gối mà “ịn” vào đó, chỉ có nước đi ăn mày. Băng vệ sinh, trai chúng tôi SVSQ mua nhiều hơn nữ Khu Nữ Quân Nhân trong trường.

Khu Sinh Hoạt ở cổng số 9 chính là phục vụ về ăn uống, cũng đỡ cho những lần không nuốt trôi “Cơm Nhà Bàn” hay những chiều anh em thù tạc dĩa cơm, chai bia cho đời “nhọc nhằn mà vui”. Chúng tôi được dạy ngồi hát vỗ tay, đi hát theo nhịp  bài “Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức Hành Khúc” của Hoàng Thanh và bài  “Quân Trường Vang Tiếng Gọi” của Trầm Tử Thiêng.

Băi Cây Đa, Băi Vườn Thơm, Băi Cây G̣n, Băi Mẹ Bồng Con, Băi Đồi Bác Sĩ Tín, Băi Vườn Cao Su, Băi Trường Kiểu Mẫu, Băi Làng Đại Học, Băi Đồi 18, Băi Đồi 25…ai mà không có kỹ niệm ?

Băi Cây Đa đầu làng, sát hàng rào kẽm gai nhà trường, học các bài Ngụy Trang.Lính gác giặc…mà ngủ trong ruột ngủ ra dưới bóng tàng cây mát mát gió hiu hiu...Thỉnh thoảng một anh bị lôi ra “bơm”, “thụt”, “nhảy”, “chạy ḷ c̣”…

Bài “Đội H́nh Trung Đội” được giảng dạy và thực hành  ở Băi Cây G̣n, c̣n gọi là “Băi Con Gầy”, cạnh nhiều mả đá ong phía sau, sát Xa Lộ Biên Ḥa và gần Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức. 

Thời nầy cũng có cái lạ là, từng Đại Đội, từng Đại Đội đi nhiều cây số ngàn ra Băi Bắn, học Tác Xạ dưới trời nắng chang chang đốt bộ treillis bốc khói mà cát th́ nóng như lửa chỉ để bắn 3 viên đạn Garant chơi. May mà các anh lùn “vịt đẹt ” thường phải đi sau chót được mang M.16. Họ đi lụp chụp, lệt bệt trông dễ cười, dễ thương và tội nghiệp hết sức. Nếu mang Garant th́ người và súng chắc dài bằng nhau, chỉ có nước chết, nói ǵ “hộc x́ dầu”! Băi th́ có xa, có gần. Gần đi bộ. Xa đi xe. Đi ǵ cũng mệt. Lúc nào cũng “nón hai lớp”, đạn đủ cấp số, ballot  (ba lô ,backpack, một loại túi vải có hai dây đeo qua vai. 

nặng ch́nh chịch, súng cầm tay, dây ba chạc, bidon đầy nước, đôi botte de saut...không thoải mái chút nào!.

Buồn cười khi học “Trung Đội Tấn Công”, “Tùng Thiết” hay “Lục Soát”…ḿnh chạy thấy mẹ, mệt chết cha vô gặp việt cộng giả là các anh SVSQ bon chen yên ổn trong bụi mát hay trong nhà im. Lính Việt Nam Cộng Ḥa chúng tôi, đánh, đạp, thoi giả… cũng đả.

Một lần “Đu Dây Tử Thần” từ trên cḥi cao dốc xuống cột ciment xa thật là xa dưới kia. Ḍm xuống, sâu thật là sâu lĩa chĩa rừng cây lởm chởm đâm lên. Hơi khớp!. Hai tay cầm hai cái róc rách, “úm ba la” tống một cái, người đi rào rào trong gió. Thả tay ra, người tơm xuống hồ nước. Có ǵ đâu?. Vậy mà cũng có nhiều anh đau đít, điếng “thằng nhỏ”. Vậy mà cũng có nhiều anh “ơi ới”, c̣n chút nữa chết đuối như chơi !.

Những ba ngày hai đêm “Di Hành Dă Trại” từ Vườn Cao Su dọc theo con đường sát rừng tre cuối băi; Men theo con sông nằm đằng sau những ḷ gốm, ḷ gạch Tân Vạn thuộc Quận Dĩ An; Băng qua những vùng śnh lầy bần, đước, ruộng lúa,… mà đến một Nhà Thờ đạo Thiên Chúa, gần Xa Lộ Biên Ḥa.

 

Sau đây là vài h́nh phạt  tiêu biểu dành cho khóa sinh nào vi phạm nội quy Trường Bộ Binh Thủ Đức :

Về đây không “ngán” cái “chà láng” của Quang Trung nhưng “sợ” cái giường ngủ không căng, cái mền không thẳng, đôi giày không bóng, búp nịt vàng không sáng…là bỏ mẹ “Dă Chiến”, “Gỡ Gai Bă Đậu”, “Lấy Chữ Kư Của Các Đại Đội Trưởng Cán Bộ”…nhẹ là “Nhảy Xổm”, “Hít Đất”.

Ø  Một lần tôi làm Tuần Sự Đại Đội phải thức sớm, ngủ khuya, ăn bận gọn gàng, theo quân phong quân kỷ, chững chạc, , mạnh dạn, dơng dạc, trách nhiệm…Đó cũng là cách nhà trường tập cho ḿnh lảnh đạo, chỉ huy.Tôi th́ bị “ba mươi cái nhảy xổm” mệt ứ hơi v́ Tuần Sự không biết trông coi, thiếu trách nhiệm;

Ø  Một sáng, v́ cùng thức giấc một lượt, cùng làm vệ sinh một lượt, cùng “quấy quá” cho mau buổi ăn sáng một lượt… để c̣n ra băi, một khóa sinh “xịt” không đúng chỗ, bị  phạt ba mươi ṿng Đại Đội vừa chạy vừa hô to, “tôi không bao giờ phóng uế bừa bải nữa”, “tôi không bao giờ phóng uế bừa bải nữa” ;

Ø  Mua xôi, mua bánh ḿ, mua cà phê, mua cơm...bán rong ngoài hàng rào là vi phạm nội quy “Ăn Hàng Rong”.  Ai phạm kỷ luật này bị h́nh phạt ‘’ Móc gị’’ : hai chân móc cao lên lan can, tay chống đất, miệng phải ăn hay uống thứ ḿnh vi phạm ;

Ø  Một khóa sinh quên  để súng của ḿnh đâu đó, người này bị hành phạt “ba mươi giây”  : vừa chạy thụt lùi vừa la to “súng là vợ, đạn là con, tôi không bao giờ bỏ súng”;

Ø  Rồi trước Ngày Bầu Cử Tổng Thống vào ngày 3 tháng 10 năm 1971, Đại Đội lại về Quốc Gia Nghĩa Tử gần Bộ Tổng Tham Mưu và Phi Trường Tân Sơn Nhứt, tăng cường an ninh một lần nữa. V́ gần nhà và dễ “dù” nên các SVSQ bị phạt “lia chia”. Một ngày, sau hai ngày mưa tầm tă, nước đâu tuôn về, ngập đầy sân cỏ nhà trường, tôi bị  phạt “Trùm Poncho”. Trời mát mát lạnh mà người sao nóng thật là nóng, mồ hôi chảy ra như tắm, chan đầy châu thân…,“Xỉu” . Người ngả bịch xuống….Trời đất mang mang không c̣n biết ǵ nữa è

Ø  Nhà trường có một giảng đường lớn là Đại Giảng Đường, làm toàn bằng tôle thiếc từ vách đến mái. Mỗi khi có buổi sinh hoạt đông SVSQ, nhất là vào buổi trưa, buổi xế th́ nóng không chịu nổi. V́ vậy nó cũng có tên là Đại Hỏa Ḷ từ xửa từ xưa. Ấy vậy mà, cũng có rất nhiều anh em ngủ ngồi ngon lành trên cái nón sắt của ḿnh. Trong quân trường, ai không thiếu ngủ, thèm ngủ ? “Ngủ từ trong bụng ngủ ra”. Có anh cởi giày ra, banh áo ra…cho mát. Có nhiều anh giành nhau ngồi phía ngoài cửa. Giành tới giành lui bị kéo nhau ra chịu phạt “Nhất Dương Chỉ”. Món phạt “Nhất Dương Chỉ” nầy là của Cán Bộ Đại Đội 31 nghiễn ra. Trong Tiểu Đoàn 3 của tôi, Đại Đội 31 nổi tiếng “hắc ám” nhất. “Nhất Dương Chỉ” là dùng một ngón tay trỏ (nhất dương chỉ mà ) ấn vào cái nón sắt đặt dưới đất, người cứ quay hoài ṿng tṛn 360 độ mà cứ phải “nhanh lên, nhanh lên” cho đến khi nào “quẹo”, “ngoẽo”;

Ø  Sau bài thực tập “Trung Đội Tấn Công”, Đại Đội tập họp khám súng trước khi “tan hàng cố gắng” t́m bụi ăn cơm. Kéo cơ bẩm, bóp c̣ chết. Một tràng đạn thiệt xéo ngang màng tang tôi. Nhờ đang nghiêng đầu. Không th́ nát cả tam tinh. Anh khóa sinh bât cẩn này  bị “Dă Chiến”. Anh phải gỡ một trăm mụt gai bă đậu. Anh phải chạy khắp các Đại Đội 31 đến 39 của Tiểu Đoàn xin chữ kư của các ông Đại Đội Trưởng Cán Bộ và ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Khóa Sinh. Làm sao mà gặp ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Khóa Sinh? Ổng ở Sài G̣n nhiều hơn Thủ Đức mà. Anh phải “ba mươi giây” mặc vào, thay ra, rồi lại mặc vào bộ đại lễ dềnh dàng. Anh phải 30 ngày vác, tháo ráp, chùi đại liên M.60. Chỉ có “từ chết tới bị thương”, từ “bị thương tới chết” mà thôi. Tội nghiệp !.

‘’Ba Lẻ Một” là Đồn Quân Cảnh trong trường để “nhốt” những anh bạn SVSQ vi phạm kỷ luật của Quân Trường Thủ Đức.

 

V́ t́nh h́nh an ninh, dù ngày đă “ngất ngư con tàu đi” học cơ bản thao diễn, chiến thuật, địa h́nh, pháo binh, vũ khí, tác xạ, ngụy trang, vượt sông, mưu sinh thoát hiểm… về c̣n tập diễn hành Vũ Đ́nh Trường vài ṿng. 

 

Chúng tôi đêm phải ứng chiến tại Đại Đội hay gác bốn tuyến ṿng đai. Tuyến A mặt tiền, chắn ngang cổng vào trường, nh́n ngoài kia Chợ Nhỏ. Đố ai không một lần làm quen một “em gái hậu phương” ở đây?  Tuyến B dọc theo Khu Tiếp Tân, lảng vảng vài cái mả đá ong xưa thật là xưa. Tuyến C bọc Khu Thiết Giáp cũ, bên kia đường là Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, trường đào tạo Sĩ Quan Cảnh Sát. Tuyến D mặt hậu với Cổng Số 9 ra băi, xa xa là Bến Nọc, khúc “đường trường xa” SVSQ Thủ Đức thường bước ngắn bước dài thời huấn luyện .

Ai gác th́ gác. Ai rảnh th́ xuống Câu lạc Bộ, Khu Ăn Gia Binh, Khu Sinh Hoạt hay vào vài “Tiệm Lẻ Tẻ” có các cô chủ quán hết sức khêu gợi, mời mọc, hoặc chun đầu vào Rạp Chớp Bóng Thanh Vân ở cuối Vũ Đ́nh Trường coi “cho đỡ ghiền” hay “chơi” một giấc thẳng cẳng.

Một thời ở Thủ Đức, tôi chưa một lần rửa cái gamelle (gà mèn, gà mên) . Cứ việc tộng nó vào bao nylon. Cứ việc cho cơm khê, cơm nhăo, ḅ kho cà rốt, canh cải…vào. Ăn xong, kéo bao nylon ra giụt. Cái gamelle vẫn sạch sành sanh. Th́ giờ để t́m chỗ “ngáy” hay “ghẹo” mấy cô bán sâm sâm, chứ th́ giờ đâu để t́m nước mà rửa mà tráng ?.

Có một chiều ghé xuống Đại Đội 32, 33 sát Tuyến B, gần Tuyến D thăm hai người bạn thời Quân Trường Quang Trung, nghe anh Giáo Hợi đờn và hát bài ảnh mới sáng tác “Hát Trên Đồi Tăng Nhơn Phú”, mà thấm đời bể dâu chi lạ . Anh Hợi, Vũ Hợi, người Quảng Nam, giáo sư Triết. Chúng tôi biết vậy ở trong Trường Bộ Binh Thủ Đức. Vài năm sau biết thêm, ảnh là Nhạc Sĩ Vũ Đức Sao Biển .

 

Mới ngày nào đó “huấn nhục” chằng ăn, trăn quấn qua mau. “Quỳ Xuống Các Tân Khóa Sinh” rồi “Đứng Dậy Các Sinh Viên Sĩ Quan”, họ đă trối chết bỏ lại sau lưng thời đọa đày, đeo lên vai, trên cồ áo con cá vàng ḿnh ngắn, đuôi dài Alpha.

Các ông Cán Bộ Đại Đội cứ y như rằng, trời đổ đôm đốm lửa th́ lôi người ta ra Vũ Đ́nh Trường mà “quần”. Cơ bản thao diễn của các ổng không ngon lành chút nào. “Súng chào”, “gác súng”, “nghiêm”, “thao diễn nghỉ”, “bên trái bẻ góc”, “bên phải bẻ góc”, “đằng sau quây”,”bên trái quây”, “bên phải quây”…không giống ai !

Là khóa sẽ diễn hành trong Ngày Quân Lực 19 Tháng 6 nên trước khi đi băi hay sau đi băi về hoặc trước khi vào pḥng các F buổi sáng và chiều từ pḥng các F về th́ tất cả các Đại Đội phải học đi một ṿng hoặc hai ṿng Vũ Đ́nh Trường. Ngày cuối tuần, các Đại Đội phải diễn hành trước sự chứng kiến của Chỉ Huy Trưởng, Liên Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng…để phạt một, hai Đại Đội “không được về phép” 24 giờ. Đại Đội nào ở lại trường, Sĩ Quan Cán Bộ Đại Đội cũng “coupe’ ra trại về với vợ con hay bồ bịch. Các ông sĩ quan cán bộ  hè nhau “dzợt” Đại Đội te tua ngoài nắng, ngoài mưa cũng đâu có đả giận. Các SVSQ bị “đ́”. Biết chớ!. Làm ǵ?. Quân trường mà.

 

Một hai hôm nữa làm lễ măn khóa mà lảnh cái chứng nhận “Tốt Nghiệp Sĩ Quan Căn Bản Bộ Binh” có chữ kư của Chỉ Huy Trưởng, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần như thể lời thề nguyền sông núi, tung hoành ngang dọc Bốn Vùng Chiến Thuật.

 Cầm một cái băng vệ sinh của đàn bà mới mua dưới khu sinh hoạt, vừa cười hô hố, vừa cột thật chặc, thật chắc vào cái đầu gối bên phải sắp quỳ xuống “vùng sỏi đá” chông gai Vũ Đ́nh Trường. Chân trái t́ nhẹ trên mặt đất một góc 90 độ với đùi, tay trái giữ cái “casque” có hai Lon Chuẩn Úy để trên. Bàn tay phải nắm cứng để dọc theo lằn viền quần đại lễ. Người thẳng đứng, ngước mặt về khán đài. Im phăng phắc. Người Thủ Khoa dương cung bắn tên bốn hướng “Tang Bồng Hồ Thỉ”. “Quỳ Xuống Các Sinh Viên Sĩ Quan”, “Đứng Dậy Các Tân Sĩ Quan”. Măn khóa. Chuẩn Úy. Tôi người như bay bổng chín từng mây, nh́n xuống Trường Bộ Binh Thủ Đức: “xin giả từ”, lấp lững đọc thầm tên cuốn tiểu thuyết của Francois Sagan “Bonjour Tristest”, Buồn Ơi Chào Mi!.

 Đêm trước ngày măn khóa, một buổi lễ cầu siêu tại Trung Nghĩa Đài, một đầu của Vũ Đ́nh Trường, trước và cách rạp chớp bóng Thanh Vân một sân cỏ, do các vị Tuyên Úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành điều hành theo nghi thức tôn giáo. Nhạc chiêu hồn buồn buồn cuộn theo mây, theo gió… lất phất Quốc Kỳ, bập bùng ngọn đuốc lập ḷe, năo ḷng Sinh Viên Sĩ Quan ngày mai ra chiến trận!.  Hai hàng Sinh Viên Sĩ Quan thay phiên nhau đứng nghiêm như tượng đá suốt đêm, cầm cứng cây Garant, nồng súng chúc xuống như “giả từ vũ khí”, như ḷng đang thổn thức!? Đêm đó, dẫu ngày mai ra trường, Đại Đội tôi vẫn phải “ứng chiến” trong khu Trường Thiết Giáp cũ gần đó.

Đời lính muôn thuở muôn nơi là gian truân và sống chết là lằn ranh may rủi. Khởi đi từ những năm tháng quân trường là mồ chôn cái ta phóng túng, nhát gan, nhẹ dạ, đối diện khắc nghiệt cái uy quyền được phong vị hóa làm mệnh lệnh, hy sinh, bổn phận, danh dự, trách nhiệm…dính như keo sơn đến tận thế đời ḿnh, thần thánh hóa là “vị quốc vong thân”. Bước vào quân trường, ai cũng như ai, được huấn nhục để trui rèn cái kỹ cương bền bỉ, sức chịu đựng dẻo dai, sự kiên cường lẫm liệt và tấm ḷng hy sinh v́ dân, v́ nước. Nhớ thời học đường chênh vênh con đường khói sương sẽ phải dấn thân, đâu có cách nào lựa chọn thời đất nước qua phân chiến chinh. Con đường người trai sẽ đi được đánh bóng vốn gịng hào kiệt, phải bỏ lại sau lưng tất cả nỗi niềm riêng tư mà “xếp bút nghiêng theo việc đao cung” là tất nhiên vào“thuở trời đất nổi cơn gió bụi” mà. Chúng ta đă được dạy rằng: “Chí làm trai dặm ngh́n da ngựa. Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” th́, quân trường có đổ mồ hôi, sôi nước mắt… chẳng là ǵ. Một trái ớt hiểm, bảo “cay”, ừ!, th́ “cay”; Bảo “không cay”, ừ th́ “không cay”. “Ḅ hỏa lực”, “đoạn đường chiến binh, “đu dây tử thần”, nắng mưa quân trường…chẳng có chết thằng Tây đen nào. Chết chăng, những ai lội ngược gịng sóng dữ. Người ta thường nói “học tṛ ḷ ṃ trói gà không chặc”.

Các Quân Trường Quang Trung, Đồng Đế, Thủ Đức…huấn nhục, thử lửa, đă làm cho những “học tṛ ḷ ṃ trói gà không chặc” đó thành những chiến sĩ can trường trong lửa đạn, anh hùng nơi trận tiền, để lại thanh sử những chiến công phi thường, hiễn hách ‘’.

 

1967%252C+Saigon+%25E2%2580%2593+Military+graduation+parade%252C+at+the+Thu+Duc+ARVN+Infantry+School_result

 

Lễ duyệt binh tốt nghiệp ở trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967- H́nh trích từ tài liệu [15] 

 

Toán Quốc Quân Kỳ diễn hành trong ngày lễ Tốt nghiệp  04 tháng 12 năm 1971- H́nh trích từ tài liệu [1] 

 

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn lon thiếu úy cho sinh viên thủ khoa khóa 1971 Bùi Đức Sanh trường bộ binh Thủ Đức c̣n có tên là Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, Liên trường Vơ khoa Thủ Đức, trường vơ bị Thủ Đức, trường sĩ quan Thủ Đức, trường sĩ quan Thủ Đức, trường lục quân Thủ Đức

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn lon Thiếu Úy cho sinh viên Thủ Khoa khóa 1971 Bùi Đức Sanh- H́nh trích từ tài liệu [9] 

 

Theo tài liệu [16] : Từ năm 1972, những sĩ quan tốt nghiệp từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị ở Thủ Đức, nếu về binh chủng Biệt Động Quân, tất cả cũng phải đến Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ học Khóa Rừng Núi Śnh Lầy,

 

Một số sĩ quan được gởi sang Hoa Kỳ học khoá Bộ Binh ở trường Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ, kéo dài 24 tuần lễ đă đào tạo hàng trăm sĩ quan làm cán bộ của Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trường Bộ Binh.

 

Theo tài liệu [5] : Suốt 24 năm trời từ khi thành lập cho đến tháng 4 năm 1975, với kỹ thuật huấn luyện tân tiến, với thành phần cán bộ có khả năng, kinh nghiệm và thiện chí phục vụ dồi dào dưới quyền chỉ huy của các Tướng lănh và Sĩ Quan Cao Cấp có nhiều tài ba , Trường Bộ Binh luôn luôn cải tiến phương pháp huấn luyện về cả lư thuyết lẫn thực hành để phù hợp với những biến đổi theo thời cuộc và cung ứng cho Quân Lực những Sĩ Quan ưu tú. Những lớp người đă phục vụ trong toàn quân sát cánh cùng nhân dân bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng cộng sản Bắc Việt.

 

Phần 4 : Các Vị Chỉ Huy Trưởng và các khóa đào tạo

 

Bảng sau đây, trích từ tài liệu [3] , tóm tắc danh sách  các : Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ. Bảng này cũng cho thêm  rất đầy đủ các chi tiết khác như khóa, niên khóa, sỉ số khóa sinh…

Khóa -Tên khóa- Niên khóa -Thời gian -Sĩ số Khóa sinh -Chỉ huy -Tên Trường -Chú thích

1 -Lê Lợi-1951-1952 -1/10/1951-1/6/1952 (8 tháng) -255/218 -Thiếu Tá Tilly - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định -Trường được thành lập tại tỉnh Nam Định ở miền Bắc, nhưng chỉ đào tạo sĩ quan trừ bị một khóa duy nhất;

1 -Lê Văn Duyệt-1951-1952 -1/10/1951-1/6/1952 (8 tháng) -475 -Thiếu Tướng Bouillet - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức -Trường được thành lập ở một vị trí trong quận Thủ Đức thuộc tỉnh Gia Định;

2 -Phụng Sự-1952-1953 -1/10/1952-1/4/1953 (6 tháng) -579 -Đại Tá Chalandon- Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức;

3 -Đống Đa 1-1953 -1/4/1953-1/11/1953 (7 tháng) -821 -Đại tá Cảm - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức- Giai đoạn sĩ quan Pháp chuyển chức vụ Chỉ Huy Trưởng sang sĩ quan người Việt ;

3p -Đống Đa 2-1953-1954 -1/9/1953-16/3/1954 (6,5 tháng) -324-Đại tá Cảm - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ;

4 -Cương Quyết 1-1953-1954 -1/12/1953-1/6/1954 (6 tháng) -1.148 - Đại tá Cảm - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ;

4p -Cương Quyết 2-1954 -16/3/1954-1/10/1954 (6,5 tháng) -625 - Đại tá Cảm - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ;

5 -V́ Dân-1954-1955 -16/6/1954-1/2/1955 (7,5 tháng) -1.396 - Đại tá Cảm - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ;

5p -Vương Xuân Sỹ -1954-1955 -1/11/1954-1/11/1955 (12 tháng) -210/200 - Đại tá Cảm - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ;

6 -Cộng Ḥa-1957-1958 -25/3/1957-8/3/1958  (11,5 tháng) -563 -Thiếu Tướng Nghiêm -Liên trường Vơ Khoa ;

7 -Nhân Vị -1958-1959 -25/6/1958-10/6/1959 (11,5 tháng) -346 - Thiếu Tướng Nghiêm -Liên Trường Vơ Khoa ;

 8 -Bạch Đằng-1959-1960 -2/3/1959-7/3/1960 (12 tháng) -371 - Thiếu Tướng Nghiêm -Liên Trường Vơ Khoa ;

9 -Đoàn Kết- 1959-1960 -12/10/1959-14/11/1960 (13 tháng) -330 - Thiếu Tướng Nghiêm -Liên Trường Vơ Khoa ;

10 -Thành Tín-1960-1961 -20/6/1960-14/6/1961 (12 tháng) -496 - Thiếu Tướng Nghiêm -Liên Trường Vơ Khoa ;

11 -Đồng Tiến-1961 -9/1/1961-22/12/1961 (11,5 tháng) -763 - Thiếu  Tướng Tố - Liên Trường Vơ Khoa ;

12 -Trần Hưng Đạo-1961-1962 -23/10/1961-1/8/1962 (9,5 tháng) -1.478 -Đại Tá Thứ -

Liên Trường Vơ Khoa;

13 -Ấp Chiến Lược-1962 -15/3/1962-28/12/1962 (9,5 tháng) -1.527 - -Đại Tá Thứ -

Liên Trường Vơ Khoa;

14 -Nhân Trí Dũng-1962-1963 -17/9/1962-14/6/1963 (9 tháng) -2.191 - -Đại Tá Thứ -

Liên Trường Vơ Khoa;

15 -Cách Mạng-1963 -25/2/1963-27/11/1063 (9 tháng) -1.890 -Thiếu Tướng Tám - Liên Trường Vơ Khoa;

16 -Vơ Tánh-1963-1964 -27/9/1963-30/4/1964 (7 tháng) -1.609 - Thiếu Tướng Tám - Liên Trường Vơ Khoa;

17 -Nguyễn Thái Học-1964 -13/1/1964-22/10/1964 (9,5 tháng) -1.099 -Chuẩn Tướng Nhơn -Trường Bộ Binh;

18 -Phan Văn Trị -1964-1965 -8/6/1964-18/3/1965 (9,5 tháng) -1.219 - Chuẩn Tướng Nhơn -Trường Bộ Binh;

19 -Nguyễn Huệ-1964-1965 -23/11/1964-27/8/1965 (9 tháng) -1.407 - Chuẩn Tướng Hớn - Trường Bộ Binh;

20 -Xây dựng -1965 -12/4/1965-22/12/1965 (8,5 tháng) -1.475 - Chuẩn Tướng Hớn - Trường Bộ Binh;

21 -1965-1966 : 1/10/1965-1/11/1966 (13 tháng) - Đại Tá Trung - Trường Bộ Binh;

22 -1966 : 1/2/1966-1/12/1966 (10 tháng) - Đại Tá Trung - Trường Bộ Binh;

23 -1966-1967 : 1/9/1966-1/6/1967 (9 tháng) - Chuẩn Tướng Nhơn - Trường Bộ Binh;

24 -1966-1967 : 8/11/1966 -10/8/1967 - Chuẩn Tướng Thơ - Trường Bộ Binh;

25 -1967:  2/5/1967-5/12/1967 (7 tháng) -1.985 - Chuẩn Tướng Nhơn - Trường Bộ Binh;

26 -1967-1968 : 5/11/1967-8/6/1968 (7 tháng) -1.920 - Chuẩn Tướng Thơ - Trường Bộ Binh;

27 -1967-1968 : 26/10/1967-1/8/1968 (7 tháng) -986 - Chuẩn Tướng Thơ - Trường Bộ Binh;

 

Vài hàng về Đại tá Phan Đ́nh Thứ, tự Lam Sơn trích từ tài liệu [17] :

‘’Về thay thế Thiếu Tướng Hồ Văn Tố, là Đại Tá Lam Sơn Phan Đ́nh Thứ, Chỉ Huy Phó Trung Tá Vĩnh Lộc, sau này làm Tư Lệnh Quân Đoàn 2 & Vùng 2 Chiến Thuật, Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng và là Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng vào giờ thứ 25 của ngày định mệnh mất nước vào tay cộng sản bắc việt xâm lược 30.04.1975.

Đại Tá Lam Sơn Phan Đ́nh Thứ v́ không tham gia trực tiếp sớm vào cuộc đảo chánh 1.11.1963 lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Ḥa nên con đường binh nghiệp của Đại Tá Lam Sơn sau này cũng ba ch́m bảy nổi và rốt cuộc ông cũng lên được cấp Tướng 1 sao và bị giải ngũ sau đó v́ có một sự xô xát với một Thượng sĩ quản gia.

Sau khi miền Nam bị cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm, ông Tướng Lam Sơn cũng bị đi tù cải tạo dù ông đă giải ngũ trước 30.04.1975 và ông Tướng đă qua đời cách đây cũng trên 5 năm.

 Ông Tướng hùng Lam Sơn tạo dấu ấn tốt đẹp trong ḷng mọi chiến sĩ các cấp từ khi ông c̣n cấp úy, cấp tá, đặc biệt khi ông là Chỉ Huy Trưởng Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức. Lúc bấy giờ Thiếu Tá Đồng Văn Khuyên là Giám Đốc Quân Huấn hay chức vụ tương đương. Thiếu Tá Đồng Văn Khuyên, sớm nghe lời kêu gọi của quân đảo chánh 1.11.1963, ông trưc tiếp tham gia, điều động các chiến sĩ cơ hữu dưới quyền định đưa về Sàig̣n tham gia đảo chánh bị Đại Tá Lam Sơn ngăn chặn kịp thời. Thiếu Tá Đồng Văn Khuyên thoát thân về tŕnh diện Bộ Tổng Tham Mưu và sau 1.11.1963, cuộc đảo chánh thành công, ông lên Trung Tá, rồi Đại Tá, lên Tướng 1, 2 và 3 sao trong một thời gian rất ngắn. Trung Tướng Đồng Văn Khuyên từng giữ những chức quan trọng như Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, Tham Mưu Trưởng Liên Quân…

Đại Tá  Chỉ Huy Trưởng Lam Sơn, một cấp chỉ huy rất ngầu, nghĩa đen và nghĩa bóng, gương mặt ông rất có thần, có uy khi nói chuyện hay ra lệnh cho cấp dưới thi hành công tác mà ông giao phó, mọi người đều kính sợ. Nhiều tin đồn đại, Đại Tá Lam Sơn từng tát tai một tên cố vấn Mỹ khi ông này kiểm soát súng của một binh sĩ (tại 1 trung tâm huấn luyện của các chiến sĩ Dù?), lấy ngón tay quẹt vào cơ bẩm súng dơ và quệt lên mặt anh binh sĩ này làm cho Đại Tá Lam Sơn nổi sùng nên có thái độ mạnh đối với tên cố vấn chỉ muốn “giựt le”, xem thường các chiến sĩ QLVNCH ‘’.

 

4227299270_2f7c85955e_o_result

Đại Tá Phan Đ́nh Thứ-Tư lệnh Binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt năm 1964, lần hai từ 1969-1970 -  H́nh trích từ tài liệu [15] 

 

Các khóa đặt tên theo năm học

Các tên khóa ghi (chữ số nghiêng) thụ huấn tại Đồng Đế, Nha Trang. Số khóa c̣n lại thụ huấn tại Thủ Đức và Long Thành (Biên Ḥa).

Năm học -Khóa học -Chỉ Huy Trưởng -Chú thích

1968 - (1/68),(2/68),3/68,4/68,5/68,6/68,7/68,8/68,9/68 -Chuẩn Tướng Thơ -9 khóa học,
2 khóa thụ huấn tại Nha Trang ;

1969 -1/69,(2/69),3/69,4/69,5/69 - Chuẩn Tướng Thơ & Thiếu Tướng Thuần -5 khóa học,1 khóa thụ huấn tại Nha Trang;

1970 -1/70,2/70,3/70,4/70,5/70,6/70 - Thiếu Tướng Thuần - 6 khóa học ;

1971 -1/71,2/71,3/71,4/71,5/71 - Thiếu Tướng Thuần -5 khóa học;

1972-(1/72),2/72,3/72,4/72,5/72,(6/72),7/72,8/72,9A/72,9B/72,9C/72,10/72,(11/72), 12A/72,12B/72 - Trung TướngThuần -15 khóa học,3 khóa thụ huấn tại Nha Trang- Thời điểm này chiến tranh tại Việt Nam đă lên đến đỉnh điểm. Do đó nhu cầu về cán bộ chỉ huy ở các đơn vị, nhất là các đơn vị Chủ lực quân cũng tăng theo. Bộ Quốc Pḥng VNCH đă phải ban hành lệnh Tổng Động Viên toàn quốc;

1973 – 1/73,2/73,3/73,4/73,5/73,6/73,7/73- Trung Tướng Thuần- Trung Tướng Minh- 7

khóa học- Các khóa 1 và 2 thụ huấn ở Thủ Đức. Từ khóa 3 đến khóa 7 thụ huấn tại Long Thành. Kể từ năm 1973, Trường Bộ binh Thủ Đức đă dời khu huấn luyện ra Long Thành.

1974 -1/74,2/74,3/74 - Trung Tướng Minh-Trung Tướng Nghi - 3 khóa học-Khóa 3/74 c̣n đang thụ huấn dở dang tại Huấn khu Long Thành th́ xảy ra biến cố 30/4/1975 ;

-1975 -1/75 -Trung Trướng Nghi-Đại Tá Minh - 1 khóa học-Mới khai giảng tại Huấn khu Long Thành vào tháng 1/1975 .

 

Sau đây là các chi tiết bổ túc về các khóa sau năm 1968 trích từ  tài liệu  [1] :

Khoá 27 từ 26/12/1967–1/8/1968 , là khóa cuối cùng được đặt tên theo số thứ tự liên tiếp  của các khóa từ 1 đến 26  -  Thủ khoa: Châu Minh Ba.
Các khoá sau đánh số theo năm học :
Năm 1968 có 9 khoá:
Khoá 1/1968 tại Nha Trang,
Khoá 2/1968 tại Nha Trang,

Khoá 3/1968 tại Thủ Đức;

Khoá 4/1968 tại Thủ Đức;

Khoá 5/1968 tại Thủ Đức: Có 8 đai đội, sĩ số khoảng 1,500 người. măn khoá tại Quang Trung ngày 28 tháng 7, 1968. Giai đoạn 2 tại Thủ Đức từ 8 tháng 10 năm 1968 đến 25 tháng 1 năm 1969. Thủ Khoa là Chuẩn Úy Nguyễn Đ́nh Mô;

Khoá 6/1968 tại Thủ Đức;

Khoá 7/1968 tại Thủ Đức;

Khoá 8/1968 tại Thủ Đức;

Khoá 9/1968 tại Thủ Đức.


Năm 1969 có 6 khoá:
Khoá 1/69 tại Thủ Đức,
Khoá 2/69 tại Nha Trang,
Khoá 3/69 tại Thủ Đức: gồm 5 đại đội, mỗi đại đội có 200 người, sĩ số là 1,000 SVSQ. Khoá này khai giảng vào tháng 3 và măn khoá vào khoảng tháng 10, 1969,
Khoá 4/69 tại Thủ Đức, măn khoá tháng 7, 1970,
Khoá 5/69 tại Thủ Đức,
Khoá 6/69 tại Thủ Đức, khai giảng tháng 7, 1970.
Năm 1970 có 6 khoá:
Khoá 1/70,
Khoá 2/70,
Khoá 3/70,
Khoá 4/70,
Khoá 5/70,
Khoá 6/70: 1,650 SVSQ.


Năm 1971 có 5 khoá:
Khoá 1/71,
Khoá 2/71,
Khoá 3/71,
Khoá 4/71: Tại Thủ Đức; khai giảng ngày 22 tháng 8, 1971 đến ngày 2 tháng 5, 1972; tổng cộng hơn 8 tháng. Có tên là Khoá B́nh Long Anh Dũng,
Khoá 5/71: Tổng số khoảng 500 SVSQ, mà 1/5 thuộc thành phần giáo chức, nhưng trước ngày măn khoá có một số được trả về nhiệm sở cũ. Thời gian, địa điểm, ngày khai giảng, măn khoá, thủ khoa được bổ sung về ngành HCTC. Khoá này có tên là Kontum Kiêu Hùng.

Năm 1972 có 16 khoá:
Tất cả đều tham dự chiến dịch, chia làm nhiều toán khoảng 4, 5 người đi với Địa Phương Quân và Nghĩa Quân để tác động tinh thần và phổ biến hiệp định Paris. Thời gian học quân sự và chiến dịch khoảng một năm.
Khoá 1/72 tại Nha Trang, do Đại tá Bùi Trạch Dần, Liên đoàn trưởng, phụ trách. Khai giảng... Lẽ ra măn khoá ngày 8 tháng 12, 1972, nhưng v́ Hiệp Định Paris nên măi đến tháng 3, 1973 mới măn khoá. Sĩ số khoảng 700 SVSQ, hầu hết là sinh viên Kiến Trúc nhập ngũ theo lệnh tổng động viên.
Khoá 2/72,
Khoá 3/72,
Khoá 4/72,
Khoá 5A/72,
Khoá 5B/72,
Khoá 6/72 Nha Trang (Thiếu tướng Vơ Văn Cảnh Chỉ Huy Trưởng Trường Đồng Đế),
Khoá 7/72,
Khoá 8/72,
Khoá 9A/72,
Khoá 9B/72,
Khoá 9C/72 Thủ Đức,
Khoá 10A/72 Đồng Đế; Tên khoá: Yên Thế,
Khoá 10B/72 Đồng Đế,
Khoá 11/72 Đồng Đế, sĩ số 922 người. Khai giảng 16/10/1972, măn khoá 2/6/1973,
Khoá 12/72.

Năm 1973 có 8 khoá:
Khoá 1/73 tại Thủ Đức,
Khoá 2/73 tại Thủ Đức,
Khoá 3/73 tại Long Thành,
Khoá 4/73,
Khoá 5/73,
Khoá 6/73,
Khoá 7/73: Rất đông sinh viên SQ có bằng Cử nhân và Cao học, một số lớn xin gia nhập ngành Quân Cảnh và Địa phương quân. Khoá học trên 11 tháng kể cả thời gian đi chiến dịch lấn đất, giành dân,
Khoá 8/73.

Năm 1974 có 3 khoá:
Khoá 1/74 tại Long Thành
Khoá 2/74 tại Long Thành
Khoá 3/74 tại Long Thành

Khoá cuối cùng là khoá 3/75.

 

Phần 5 : Thành quả 

 

Theo tài liệu [1] & [5] : Từ năm 1951 đến năm 1975, qua 24 năm đào tạo, đă có 87 khoá SQTB với 99,223 sĩ quan. Trong đó khoảng 15,000 nguời biệt phái về các ngành chuyên môn (hầu hết là giáo chức.

Đặc biệt trong năm 1972 có 15 khoá SQTB thụ huấn tại Nha Trang và Thủ Đức. Kể từ tháng 1/1968 đến tháng 12/1973, trong việc tiếp sức trường Bộ Binh Thủ Đức, riêng trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang đă đào tạo được 12,000 sĩ quan trừ bị.

Theo tài liệu  [11] :  Trường Bộ Binh Thủ Đức váo năm 1966 đă đạt được mốc cao đào tạo được 5.619 SVSQ tốt nghiệp/năm.Qua năm  1968–1969 : Do bởi khẩn cấp nhu cầu chiến trường :  Số sinh viên tốt nghiệp c̣n cao vượt bực  : 1968: 9.479 ; 1969: 10.862 – kỷ lục năm).

Ngoài ra, trường Bộ Binh Thủ Đức c̣n phụ trách huấn luyện các khóa như sau :

Khoá Đại Đội Trưởng : 44 khóa với 5000 sĩ quan;

Khoá Tiểu Đoàn Trưởng và Bộ Binh Cao Cấp: 18 khoá với 1,500 sĩ quan.
Các khóa khác :

Khoá Hoán Hảo sĩ quan Địa Phương Quân;

Khoá  bổ túc quân sự cho sĩ quan Y, Dược sĩ trưng tập;

Khoá đào tạo Huấn luyên viên cho hàng ngàn sĩ quan Không Quân, Hải Quân, và Cảnh Sát Quốc Gia.

Theo tài liệu [2] & [3] :  Trong thời gian từ 1951 đến 1975, các trường Nam Định, Thủ Đức và Đồng Đế đă huấn luyện và đào tạo được 83 khóa sĩ quan trừ bị ,đă đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt.

Theo tài liệu [11] :  Tổng cộng : Trên 80.000 SQ” (đến khóa 74) và “99.223 SQ” (tính đến 1975).

Theo tài liệu [5] : Theo tài liệu kết quả tổng quát về số lượng các Sĩ Quan xuất thân từ Trường Bộ Binh qua các Khóa đă được đào tạo từ ngày thành lập Trường đến tháng 10 năm  1974 :

- 85 Khóa SQTB (71 Khóa SQTB/TX, 14 Khóa SQĐB). Số lượng Sĩ Quan đă tốt nghiệp là 84.223 người, kể cả hàng ngàn Sĩ Quan do các Bộ Tư Lệnh Không Quân, Hải Quân và Cảnh Sát Quốc Gia gởi đến thụ huấn.

(Phụ chú : Theo tài liệu [18] & [19] : Trường Bộ Binh Thủ Đức và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cố vấn và yểm trợ về mặt kỹ thuật trong ba tháng  huấn luyện quân sự cho các tân khóa sinh Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia) .

Sau tháng 10 năm 1974 cho đến 30 tháng 4 năm 1975 , 9 Khóa Tiểu Đoàn Trưởng hay Bộ Binh Cao Cấp kể từ khi dời từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu về Trường Bộ Binh đă đào tạo được 1.655 Sĩ Quan kể từ cấp Đại Úy đến Trung Tá.

- 43 Khóa Đại Đội Trưởng hay Bộ Binh Trung Cấp có 5.156 Sĩ Quan khóa sinh trúng tuyển.

- Kể từ năm 1965, Trường Bộ Binh c̣n phụ trách huấn luyện thêm 13 Khóa Quân Y Trưng Tập ;

(Phụ chú : Theo tài liệu [20] : Bác sĩ trưng tập thụ huấn quân sự  hai tháng tại Trường Bộ Binh Thủ Đức) .                  

Sĩ Quan Căn Bản, 20 Khóa Sĩ Quan Huấn Luyện Viên. Gần 4.000 Sĩ Quan đă tốt nghiệp các Khóa này.

Đă có biết bao cựu SVSQ Trừ Bị xuất thân từ Quân Trường này đă nắm giữ nhiều chức vụ tối quan trọng trong các ngành Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, nhiều nhất trong hệ thống Quốc Pḥng và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Theo tài liệu [3] :  Trong số các khóa sĩ quan trừ bị (tính cả ba khóa thụ huấn tại Đà Lạt), sau này có được 43 vị tướng lănh (Nam Định 11 vị, Thủ Đức 32 vị).

Bảng sau đây ( trích từ tài liệu [3] ) tóm tắc danh sách các Tướng lănh :

 

Xuất thân từ trường Nam Định :

     Họ và tên                  Cấp bậc                                 Năm phong                              

1   Lê Nguyên Khang    Trung Tướng                            1966     

2   Nguyễn Bảo Trị        Trung Tướng                            1967     

3   Nguyễn Cao Kỳ        Thiếu Tướng                            1964     

4   Nguyễn Duy Hinh     Thiếu Tướng                            1973     

5   Nguyễn Chấn      Chuẩn Tướng          1967     

6   Nguyễn Văn Lượng      Chuẩn Tướng           1967                                       

7   Phạm Hữu Nhơn      Chuẩn Tướng           1967                                       

8   Vũ Đức Nhuận      Chuẩn Tướng           1967                                       

9   Đặng Cao Thăng      Chuẩn Tướng           1967                                       

10 Phan Phụng Tiên      Chuẩn Tướng           1967                                       

11 Nguyễn Hữu Tần      Chuẩn Tướng           1974     

 

Xuất thân từ trường Thủ Đức

       Họ và tên                  Cấp bậc                          Năm phong  Khóa học            Chú thích

1     Nguyễn Đức Thắng  Trung tướng 1968              Khóa 1                           

2      Trần Văn Minh            Trung tướng  1968      Khóa 1         

3     Ngô Quang Trưởng  Trung tướng  1970             Khóa 4

4     Đồng Văn Khuyên   Trung tướng  1972             Khóa 1                           

5     Nguyễn Ngọc Loan   Thiếu tướng  1968             Khóa 1                                  

6     Nguyễn Khoa Nam   Thiếu tướng  1972             Khóa 3                           

7     Phan Đ́nh Soạn       Thiếu tướng  1972             Khóa 1                           

8     Vơ Xuân Lành           Thiếu tướng  1974             Khóa 1                                   

9     Nguyễn Khắc B́nh  Thiếu tướng  1975             Khóa 1                           

10   Bùi Thế Lân             Thiếu tướng  1975             Khóa 4                           

11    Nguyễn Bá Liên        Chuẩn tướng 1969     Khoá 3p                          Truy thăng

12   Nguyễn Văn Khương Chuẩn tướng 1970             Khóa 2                            Truy thăng

13   Nguyễn Văn Thiện        Chuẩn tướng          1970           Khóa 2               

14   Hồ Trung Hậu        Chuẩn tướng          1971            Khóa 4               

15   Đỗ Văn An        Chuẩn tướng          1972            Khóa 4                Truy thăng

166 Nguyễn Trọng Bảo        Chuẩn tướng          1972           Khóa 4                Truy thăng

17   Ngô Hán Đồng        Chuẩn tướng          1972           Khóa 2                Truy thăng

18   Lê Văn Hưng        Chuẩn tướng          1972           Khóa 5                Tự sát ngày 30/4/1975

19   Huỳnh Văn Lạc        Chuẩn tướng          1972           Khóa 3               

20   Trần Quốc Lịch        Chuẩn tướng          1972           Khóa 4p             

21   Lê Quang Lưỡng        Chuẩn tướng          1972            Khóa 4               

22   Huỳnh Bá Tính        Chuẩn tướng          1972           Khoá 1               

23   Đặng Đ́nh Linh        Chuẩn tướng          1972           Khoá 1                      

24   Huỳnh Công Thành Chuẩn tướng                  1973           Khoá 1                Truy thăng

25   Bùi Quư Cảo        Chuẩn tướng          1974            Khóa 2                Truy thăng

26   Nguyễn Văn Điềm        Chuẩn tướng          1974           Khóa 4               

27   Phạm Ngọc Sang        Chuẩn tướng          1974           Khóa 1               

28   Trương Bảy        Chuẩn tướng          1975            Khóa 1                      

29   Nguyễn Văn Giàu        Chuẩn tướng          1975           Khóa 3               

30   Chung Tấn Phát        Chuẩn tướng          1975           Khóa 3                      

31   Trang Sĩ Tấn        Chuẩn tướng          1975           Khóa 16              Thụ huấn bổ túc

32   Phạm Duy Tất        Chuẩn tướng          1975           Khóa 4p             

 

Mặt khác theo tài liệu [5] : Trường Bộ Binh đă sản sinh ra tất cả 41 vị Tướng lănh, trong đó có 12 vị   xuất thân từ Khóa 1 Lê Lợi Trường Sĩ Quan Nam Định, c̣n lại 11 vị Khóa 1 Lê Văn Duyệt Thủ Đức. Các Khóa khác của Thủ Đức là 18 vị .

 

Tài liệu [1]  ghi  thêm các chức vụ của các vị tướng kể trên :

 Khoá 1 Nam Định, 219 sĩ quan tốt nghiệp gồm có:
Trung tướng Nguyễn Đức Thắng (Bộ Trưởng Xây Dựng Nông Thôn),

( Nhưng theo tài liệu [3] : Nguyễn Đức Thắng tốt nghiệp Khóa 1 Trường Thủ Đức) ;

Trung tướng Lê Nguyên Khang (Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến),
Trung tướng Nguyễn Bảo Trị (Tổng Cục trưởng Quân Huấn),
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (Tư lệnh Không Quân, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung Ương),
Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh (Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ binh),
Chuẩn tướng Vũ Đức Nhuận (Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội),
Phó đề đốc Đặng Cao Thăng (Tư lệnh Hải Quân Vùng IV sông ng̣i kiêm Tư lệnh Hạm Đội 21),
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Tần (Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân),
Chuẩn tướng Phan Phụng Tiên (Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Không Quân),
Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm (Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh),
Chuẩn tướng Nguyễn Văn Lượng (Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Không Quân),
Chuẩn tướng Đặng Đ́nh Linh (Tham Mưu Phó Tiếp vận Bộ Tư Lệnh Không Quân),
Chuẩn tướng Nguyễn Chấn (biệt phái Bộ Canh Nông),
Chuẩn tướng Phạm Hữu Nhơn (Trưởng Pḥng 7 Bộ Tổng Tham Mưu).
Khoá 1 Thủ Đức 278 sĩ quan tốt nghiệp gồm có:
Trung tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân),
Trung tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận),
Thiếu tướng Nguyễn Khắc B́nh (Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia),
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan (Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia),
Thiếu tướng Vơ Xuân Lành (Tư Lệnh Phó Không Quân),
Thiếu tướng Phan Đ́nh Soạn (Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I Quân Khu I). Truy thăng,
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang (Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân),
Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính (Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân),
Chuẩn tướng Trương Bảy (Phụ tá Đặc Biệt Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Điều Hành),
Chuẩn tướng Huỳnh Công Thành (Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng B́nh Tuy). Truy thăng.

Khoá 2 Thủ Đức gồm có:
Chuẩn tướng Bùi Quư Cảo (Tổng Giám Đốc Tài Chánh và Thanh Tra Quân Phí),
Chuẩn tướng Nguyễn Văn Thiện (Tư Lệnh Biệt Khu Quảng–Đà),
Chuẩn tướng Ngô Hán Đồng (Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I). Truy thăng,
Chuẩn tướng Nguyễn Văn Khương (Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Phong Dinh). Truy thăng.

Khoá 3 Thủ Đức gồm có:
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh Quân đoàn IV, tuẫn tiết ngày miền Nam lọt vào tay cộng sản Bắc Việt),
Chuẩn tướng Huỳnh Văn Lạc (Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh),
Chuẩn tướng Nguyễn Văn Giàu (Phụ Tá Đặc Biệt Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách An Ninh),
Chuẩn tướng Chung Tấn Phát (Chánh Vơ Pḥng Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu).

Khoá 3 Phụ Thủ Đức (tức Khoá 9B tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt):
Chuẩn tướng Nguyễn Bá Liên. (Tư Lệnh Biệt Khu 24 Kontum). Truy thăng.

Khoá 4 (gồm Cương Quyết & Cương Quyết 2: 1,148 sĩ quan tốt nghiệp
Cương Quyết học tại Thủ Đức :
Trung tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân đoàn I),
Thiếu tướng Bùi Thế Lân (Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến),
Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Nhảy Dù),
Chuẩn tướng Phạm Duy Tất (Tư Lệnh cuộc hành quân triệt thoái Quân Đoàn II khỏi cao nguyên),
Chuẩn tướng Đỗ Văn An. (Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 10, Sư Đoàn 7 Bộ Binh). Truy thăng,
Chuẩn tướng Nguyễn Trọng Bảo. (Tham mưu trưởng kiêm Phụ tá Hành Quân Sư Đoàn Nhảy Dù). Truy thăng,
Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu (Chánh Thanh Tra Quân Đoàn III Quân Khu III).

Cương Quyết 2 (tức Khoá 10B tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt) :
Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch (Chánh Thanh Tra Quân Đoàn IV Quân Khu IV).

Khoá 5 Thủ Đức: 1,396 sĩ quan tốt nghiệp:
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (Tư lệnh phó Quân đoàn IV, tuẫn tiết ngày miền Nam bị cưỡng chiếm bởi cộng sản Bắc Việt).

Khoá 16 Thủ Đức:
Chuẩn tướng Cảnh Sát Trang Sĩ Tấn (Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Đô Thành Sàig̣n).

 


Tài liệu tham khảo :

1.     https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .

2.     https://www.facebook.com/media/set/?set=a.535168186528691.126684.133331390045708&type=3 Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức của QL VNCH -Trường Bộ Binh Thủ Đức -18 fev 2013 .

3.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức .

4.     https://tunhan.wordpress.com/2014/05/21/tuong-nho-ngon-doi-tang-nhon-phu/

Nguyễn Qúy Đại – Tưởng nhớ ngọn đồi Tăng Nhơn Phú ! -Posted on Tháng Năm 21, 2014 – Thủ Đức một thời khó quên.

5.     https://haisu.org/LuocSuTBB.htm Lược sử Trường Bộ Binh -Hồ Đắc Huân -Cựu SVSQ Khóa 2 Nhân Vị Nha Trang.

6.     https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.

7.     https://conganhuynh.com/Chuong6.htm Huỳnh Công Ân-Chương 6 -  Tuổi trẻ trong thời chinh chiến .

8.     https://vienquocgiadinhchuan.blogspot.com/2015/08/a-hoc-nhung-gi-tai-truong-bo-binh-thu-uc.html  Đă học những ǵ tại Trường Bộ Binh Thủ Đức- August 2 ,2015-Những môn học và sinh hoạt hôc tập tại Trường Bộ Binh Thủ Đức VNCH - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức - Kư ức của một số sĩ quan đă thụ huấn tại Trường Bộ Binh Danh Nguyễn / Cục Quân Nhu QLVNCH- Updated Dec/10/2015 .

9.     https://chientruongvietnam.com/2019/01/26/truong-bo-binh-thu-duc/ -Trường bộ binh Thủ Đức - By chientruongvietnam Last updated Jan 26, 2019 .

10.  http://batkhuat.net/tl-nhungngaicuoi-tbb.htm Những ngày cuối cùng của Truờng Bộ Binh  - Nguyễn Ngọc Thạch .

11.  Lễ Kỷ Niệm 74 Năm Ngày Thành Lập Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức (1951-2025)-Lê Văn Hải- Những kỷ niệm thân thương, gần cuối đời mà sao vẫn nhớ! không thể nào quên trong  trong thời gian thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức .

12.  http://batkhuat.net/ds-thuduc-hanhkhuc.htm Trường Bộ Binh Thủ Đức-Khóa 8B+C/72  Bất Khuất .

13.  https://vienquocgiadinhchuan.blogspot.com/2015/08/a-hoc-nhung-gi-tai-truong-bo-binh-thu-uc.html  Đă học những ǵ tại Trường Bộ Binh Thủ Đức- August 2 ,2015-Những môn học và sinh hoạt hôc tập tại Trường Bộ Binh Thủ Đức VNCH - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức – Kư ức của một số sĩ quan đă thụ huấn tại Trường Bộ Binh- Nhớ Về Quân Trường B.B Thủ Đức - Phan Ni Tấn (Nhảy Dù) . Viết tặng quí vị cựu SVSQ Thủ Đức - Published on: January 10, 2013 . 

14.  http://batkhuat.net/tl-quantruong.htm Trường Bộ BinhThủ Đức- Khóa 8B+C/72 Bất Khuất- Quân Trường-Nguyễn Thừa B́nh-Ngày mùa Đông Canh Dần năm 2010.

15.  https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975).

16.  http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa- Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam - BĐQ Đỗ Như Quyên (Ranger Charlie Brown Phương) .

17.  https://vcavic.wordpress.com/thu-vien/truong-sy-quan-bo-binh-thu-duc-50-cuoc-doi/ Cộng  Động  Người Việt Tự Do Úc Châu -Tiểu Bang Victoria - Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức – 50 cuộc đời .

18.  https://bienxua.wordpress.com/2024/09/05/hoc-vien-canh-sat-quoc-gia-truong-dao-tao-si-quan-cua-luc-luong-csqg-vnch-toan-nhu/ Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia - Trường Đào Tạo Sĩ Quan của Lực Lượng CSQG VNCH – Toàn Như SVSQ Toàn Như – Khóa 1 -Posted by bienxua on September 5, 2024

19.  http://batkhuat.net/van-toivao-hocvien-csqg.htm Tôi vào học Viện Cảnh Sát Quốc Gia- Nguyễn Thừa B́nh- Kansas City,Missouri-Đầu Hè năm 2011, Tân Măo niên .

20.  https://vienquocgiadinhchuan.blogspot.com/2015/08/a-hoc-nhung-gi-tai-truong-bo-binh-thu-uc.html  Đă học những ǵ tại Trường Bộ Binh Thủ Đức- August 2 ,2015-Những môn học và sinh hoạt hôc tập tại Trường Bộ Binh Thủ Đức VNCH - Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức – Kư ức của một số sĩ quan đă thụ huấn tại Trường Bộ Binh Đinh Xuân Dũng/Bác Sĩ Y - Updated Dec/10/2015.

 

4- Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang – Đường Duy Tân-Nha Trang

Bài nay gồm có hai phần :

Phần 1 : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang

Phần 2 : Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa

Phần 1 : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang

Theo tài liệu [1] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (tiếng Anh: Nha Trang Naval Training Center, NTNTC) là một cơ sở đào tạo quân nhân 3 cấp ;  Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Thủy Thủ của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa và cũng được gọi là Trường Sĩ Quan Hải Quân.

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang tọa lạc tại đường Duy Tân-Nha Trang, chính thức khai giảng từ tháng 8 năm 1952 nhưng phải tới tháng 7 năm 1955  khi Pháp trả lại Chủ quyền cho Quốc Gia Việt Nam  th́ Trung Tâm  mới thuộc hoàn toàn của Việt Nam. Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Hải quân Thiếu Tá  Chung Tấn Cang.

 

Hiệu kỳ Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang - H́nh trích từ tài liệu [1] 

Theo tài liệu [2] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (TTHL/HQ/NT) được xây cất xong vào tháng 07 năm 1952.

Tuy nhiên theo tài liệu  [3] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân  Nha Trang, được thành lập bởi Hải Quân Pháp vào năm 1951 là nơi cung cấp sự huấn luyện cần thiết về năng khiếu căn bản và cao hơn cho các Sĩ Quan và Thủy Thủ của Hải Quân Việt Nam.

Và theo tài liệu [4] : Vào tháng 11 năm 1951, công cuộc xây cất Trung Tâm Huấn Luyện Hải  Quân Nha  Trang bắt đầu.

Ngày 12  tháng 7 năm 1952, Phó Đô Đốc Paul Ange Philippe Ortoli khánh thành Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.

Ngày 7 tháng 11 năm 1955, Pháp chuyển giao Trung Tâm Huấn Luyện Hải  Quân Nha Trang cho Hải Quân Việt Nam.

Trên Facebook tài  liệu [5] :    Nguyệt Cúc Trần  viết : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân trên đường Duy Tân ( gần Chụtt), đối diện có công viên Bạch Đằng với bức tượng Trần Hưng Đạo uy nghiêm chỉ tay ra Biển.Tôi đă được tham dự Lễ măn khoá của SVSQ ra trường diễn ra rất long trọng ban ngày lẫn ban đêm .

 

Aucune description de photo disponible.

Thao diễn trường Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân-  H́nh trích từ tài liệu [5]

 

Lược sử h́nh thành  của Trung tâm Huấn luyện Hải Quân theo tài liệu [1]  &  [6]   là như sau :

Nhiệm vụ :

Trung Tâm Huấn Luyện Hải quân trực thuộc Tổng Cục Quân huấn theo hệ thống điều hành của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng ḥa.

Trung Tâm được thành lập năm 1952 với nhiệm vụ đào tạo gấp rút Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Thủy Thủ cho Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

Trong thời kỳ phôi thai, công việc tổ chức và huấn luyện đều do Hải Quân Pháp đảm nhiệm.

 

H́nh trích từ tài liệu [3]

 

Tới năm 1955, song song với việc Chính Phủ Việt Nam thâu hồi tất cả chủ quyền và cơ sở từ Quân Đội Pháp. Trung Tâm được đặt dưới quyền chỉ huy của sĩ quan Hải Quân Việt Nam.

Các giai đoạn :

Giai đoạn sơ khởi kể từ ngày thành lập:

Từ đầu tháng 7 năm 1952, các cán bộ chỉ huy và huấn luyện hoàn toàn là người Pháp.

Giai đoạn tự chủ:

Kể từ đầu tháng 11 năm 1955, người Pháp bàn giao quyền chỉ huy cho các sĩ quan Việt Nam.

Giai đoạn chuyển tiếp:

Từ tháng 5  năm 1956, việc huấn luyện cán bộ, hạ sĩ quan và thuỷ thủ chuyên nghiệp, hoàn toàn do các huấn luyện viên Việt Nam đảm nhiệm.

Giai đoạn trưởng thành:

Kể từ tháng 5 năm 1957, phân bộ huấn luyện Pháp rời khỏi Trung tâm. Các sĩ quan Việt Nam đảm trách luôn việc đào tạo các cấp chỉ huy cho Hải quân Việt Nam.

Hoạt động :

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang có 4 trường:

1.     Trường Sĩ Quan Chỉ Huy và Cơ Khí;

2.     Trường Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp;

3.     Trường Trung Đẳng Chuyên Nghiệp;

4.     Trường Tân Binh Hải Quân .

 

1/ Trường Sĩ quan Chỉ huy và Cơ khí:

Muốn vào trường này sinh viên phải có bằng Tú Tài Toàn Phần (Tú Tài 2)  Toán (ban B) hay Khoa Học (ban A), đầy đủ sức khoẻ và hạnh kiểm tốt.

Chương tŕnh học được chia ra:

-4 tháng đầu: Ôn lại văn hoá, học về cách tổ chức, việc quản trị và phương pháp điều khiển;

-10 tháng tiếp: Học về ngành chuyên môn Chỉ huy hoặc Cơ khí. Sinh viên phải theo một chương tŕnh huấn luyện về các vấn đề : Sử địa hàng hải, Quốc tế công pháp, Thiên văn học, Thuỷ triều, Thám xuất, Phương pháp điều khiển chiến hạm v.v… hoặc những vấn đề liên quan tới máy móc, điện khí ;

-10 tháng sau: Học tiếp về chuyên môn, nặng phần thực hành. Hết thời gian này sinh viên thi ra trường và được mang cấp bậc Hải quân Thiếu úy hoặc Thiếu úy Cơ khí trừ bị.

Sau thời gian 2 năm học tại trường, các tân sĩ quan được gửi đi tập sự trên chiến hạm. Những sinh viên ưu tú sẽ được chọn theo học ở ngoại quốc.

 

Theo tài liệu [3] :   Các tiêu chuẩn để được nhận vào Học Viện Hải Quân (Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân) rất nghiêm nhặt . Mỗi ứng viên phải là công dân Việt Nam, từ 18 đến 26 tuổi và phải vượt qua lần khám sức khỏe theo tiêu chuẩn Hải Quân. Chưa từng bị kết án h́nh sự bởi ṭa án dân sự hoặc quân sự, và ứng viên phải có bằng Tú Tài Phần Hai chuyên ngành Toán Học (Tú tài 2 ban B). Với tŕnh độ này tương đương với khoảng một năm học tại đại học ở Hoa Kỳ.

 

 

Điều kiện nhập học và chương tŕnh huần luyện cùa Trường Sĩ Quan Hải Quân (tiếng Việt) - H́nh trích từ tài liệu [3] & [7] 

 

Điều kiện nhập học và chương tŕnh huần luyện cùa Trường Sĩ Quan Hải Quân (tiếng Anh) -H́nh trích từ tài liệu  [3] &  [7] 

 

Nếu vượt qua được những trở ngại ban đầu, ứng viên sẽ phải dự kỳ thi tuyển gồm 8 môn: Việt Văn, Vật Lư, Cơ Học, Lượng Giác, H́nh Học, Toán Đại Số, Sinh Ngữ  Pháp và  Anh. Những người đạt điểm cao nhất được chọn để bổ sung vào chỉ tiêu đă được xác định theo nhu cầu hiện tại của Hải Quân Việt Nam.  

 

2/ Trường Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp:

Học viên trường này tối thiểu phải có học lực lớp Đệ Lục (lớp 7).

Thời gian học của một niên khoá là 12 tháng : 3 tháng đầu học về căn bản hải nghiệp và căn bản quân sự. Tiếp đến 9 tháng sau học về chuyên nghiệp như: Kế toán, Thư kư, Vô tuyến, Cơ khí, Vận chuyển, Trọng pháo v.v…

Sau khi ra trường, học viên đủ điểm sẽ được mang cấp bậc chuyên nghiệp. Nếu bị rớt sẽ là thuỷ thủ không nghề.

 

3/ Trường Trung Đẳng Chuyên Nghiệp:

Học viên của trường này được tuyển chọn trong số các thuỷ thủ chuyên nghiệp có tŕnh độ văn hoá khá hoặc có văn bằng trung học Đệ Nhất Cấp, biết trọng kỷ luật và có tinh thần phục vụ.

Thời gian học là 3 tháng, đặc biệt nhắm vào việc huấn luyện chuyên môn và cách điều khiển nhân viên. Trong thời gian học, các học viên được mang cấp bậc Hạ sĩ. Đến kỳ thi măn khoá nếu trúng tuyển, học viên sẽ được đặc cách thăng cấp Hạ sĩ I chuyên nghiệp.

 

4/ Trường Tân Binh Hải Quân:

Các tân binh Hải quân sau khi học xong thời kỳ đầu sẽ được tuyển chọn tuỳ theo năng khiếu và ước vọng để theo học trường Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp.

 

Điểm đặc biệt là các sách giáo khoa đều đă được Trung Tâm soạn bằng tiếng Việt dự theo tài liệu huấn luyện của Hải Quân Pháp, Hoa Kỳ và các nước phát triển.

Riêng các Sinh viên sĩ quan, ngoài thời gian huấn luyện tại trường và thực tập trong các kỳ đi biển, mỗi năm c̣n được đi du tập tại Sài G̣n hoặc những thành phố lớn. Trong thời gian này các sinh viên sĩ quan có dịp đi thăm viếng các trường Cao Đẳng, các Trung Tâm Khảo Cứu, các xí nghiệp kỹ nghệ, công trường quan trọng, các cơ sở liên quan đến Hải Quân, kinh tế, quân sự của Quốc Gia.

Tóm lại, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân đă tổ chức rất thích hợp để đào tạo cho Hải Quân Việt Nam những con người giỏi chỉ huy, thích hoạt động đủ sức vượt gian lao và thắng biển cả.

 

Các Chỉ  Huy Trưởng từ ngày Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được chuyển giao cho HQVN/CH theo tài liệu  [1] như sau:

1      Chung Tấn Cang- Tốt nghiệp Hải quân Nha Trang K1-Hải Quân Thiếu Tá : 7/11/1955-29/3/1958.
Bị truật xuất ra Hải Quân VNCH 6 năm v́ tội tham nhũng Thủy Cước. Hội đồng tướng lảnh v́ bảo vệ danh tiếng VNCH nên ông không bị giải ngủ. Trước ngày 30 tháng 4, 1975 v́ lo chuyện di tản, Nguyễn Văn Thiệu trước khi sang Đài Loan cho Phó Đô đốc Trung tướng trở về làm Tư lệnh Quân chủng Hải Quân (Chung Tấn Cang và Nguyễn Văn Thiệu là bạn thân).

2      Đặng Cao Thăng- Tốt nghiệp Sĩ Quan Nam Định- Hải Quân Brest K1- Hải Quân Thiếu Tá : 29/3/1958-10/2/1960 . Sau cùng là Phó Đề đốc Chuẩn tướng Tư lệnh Hải quân Vùng 4 Sông ng̣i kiêm Tư lệnh Hạm đội 21.

3      Vương Hữu Thiều- Tốt nghiệp Sĩ Quan Thủ Đức- Hải Quân Brest K1- Hải Quân Thiếu

Tá : 10/2/1960-19/1/1963 . Sau cùng là Hải quân Đại tá Chỉ huy trưởng căn cứ Hải quân Đà Nẵng

4   Dư Trí Hùng : Tốt nghiệp Hải Quân Brest K2- Hải Quân Thiếu Tá : 19/1/1963-23/12/1963.Sau cùng là Hải quân Đại tá Hạm trưởng HQ 12

5   Nguyễn Đức Vân- Tốt nghiệp Hải Quân Brest K1- Hải Quân Trung Tá : 23/12/1963-26/2/1966.Sau cùng là Hải quân Đại tá Chỉ huy trưởng trường Chỉ huy & Tham mưu Hải quân

6 Bùi Hữu Thư : Tốt nghiệp Hải Quân Pháp- Hải Quân Brest K3- Hải Quân Thiếu Tá : 26/2/1966-13/7/1966 .Sau cùng là Hải quân Đại tá Tham mưu phó Quân huấn Hải quân.

Theo tài liệu [8] : Năm 1965 ,  ông Bùi Hữu Thư  được thuyên chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang trong chức vụ Chỉ Huy Phó. Lúc đó vị Chỉ Huy Trưởng là Trung Tá Vương Hữu Thiều và Giám Đốc Quân Huấn là Thiếu Tá Dư Trí Hùng. Vị Chỉ Huy Trưởng kế tiếp là Trung Tá Nguyễn Đức Vân. Sau khi ông Vân được thuyên chuyển về Sài g̣n th́ ông Thư được bổ nhiệm làm Quyền Chỉ Huy Trưởng v́ lúc đó ông Thư chỉ mang cấp bực thiếu tá.

7 Đinh Mạnh Hùng- Tốt nghiệp Hải quân Nha Trang K2- Hải Quân Đại Tá : 13/7/1966-1/3/1969.Sau cùng là Đề đốc Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Hành quân Lưu động sông

8 Khương Hữu Bá- Tốt nghiệp Hải quân Nha Trang K2- Hải Quân Đại Tá : 01/3/1969-6/8/1971.Sau cùng là Đề Đốc Tư lệnh Hải quân Vùng 4 Duyên hải (1974-1975)

9 Nguyễn Trọng Hiệp- Tốt nghiệp Hải quân Nha Trang K5- Hải Quân Đại Tá : 06/8/1971-06/1/1973 .  

10 Nguyễn Thanh Châu- Tốt nghiệp Hải quân Nha Trang K3- Hải Quân Đại Tá : 06/1/1973-4/1975 .Thăng cấp Phó Đề đốc Chuẩn tướng ngày 1/4/1974 .

Tư dinh của vị Chỉ Huy Trưởng TTHL/NT toạ lạc tại số 52 đường Duy Tân.

 

Sau đây là lược sử thành lập  của  Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang trích từ tài liệu [2] & [3] :

Trước 20 tháng 07 năm 1954 , Hải Quân Quốc Gia Việt Nam h́nh thành được Hải Quân Pháp huấn luyện.

Ngày 20 tháng 07 năm 1954, Chính Phủ Pháp kư Hiệp Định Genève chia đôi đất nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc theo chế độ Cộng Sản, từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam theo chế độ Tự Do thuộc về Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH). Khi đó Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa được Hoa Kỳ trợ giúp huấn luyện, trang bị cũng như hiện đại hóa để bảo vệ miền Nam.

Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà có 3 Trung Tâm Huấn  Luyện chính như:

1.     TrungTâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang;

2.     Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh ;

(Chú thích : Theo tài liệu [3] : Năm 1965, nhiệm vụ đào tạo tân binh do Trung Tâm Huấn Luyện Hải Thuyền ngày trước đảm trách, nay đổi tên là Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh đảm nhận ) .

3.     Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sàig̣n.

Ngoài ra c̣n có nhiều khóa học xuất thân từ những Quân Trường trong cũng như ngoài nước.

Hơn nửa,theo tài liệu [8] :  

Hải Quân Việt Nam có ba (3)  Trung Tâm Huấn Luyện chính.

1.     Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang gồm hai trường :

A.    Thứ nhứt là trường Chuyên Nghiệp Sơ Đẳng và Cao Đẳng, trường tu nghiệp cho Hạ Sĩ Quan;

B.    Và thứ hai là trường Sĩ Quan Hải Quân, trường đào tạo Sĩ Quan, Quan Tàu cơ bản.

2.     Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh là trường đào tạo Thủy Thủ, Lính Tàu cơ bản.

3.     Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc ở Sàig̣n là trường tu nghiệp dành cho các Sĩ Quan Trung Cấp và Cao Cấp.

C̣n trường thợ lặn, người nhái, trường ong biển (sea bees), trường gơ sét, trường chạy rùa … ǵ ǵ nữa ở đâu? Làm sao mà biết hết được !

 

Theo tài liệu [9] : Vào khoảng năm 1970, do bởi chương tŕnh  Việt Nam hóa chiến tranh, Quân Lực  Việt Nam Cộng Ḥa được  bành trướng. Kế hoạch ACTOV (Accelerated Turn Over to Vietnam) đă được khởi sự với sự chuyển giao các PBR cho Hải Quân Việt Nam.

Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh (TTHL/Cam Ranh)  lúc đó đă nhận huấn luyện tất cả các khóa căn bản quân sự và sơ đẳng chuyên nghiệp cho khóa sinh Thủy Thủ. Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang (TTHL/Nha Trang) chỉ đào tạo Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan.

Dần dần khả năng huấn luyện căn bản quân sự của TTHL/Cam Ranh cũng không cung ứng nổi cho việc đào tạo thủy thủ và sĩ quan. Những  người bị động viên các lớp sau phải được gửi đi Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Gia Định để huấn luyện quân sự, do đó mới nẩy ra danh từ “Các Khóa Lưu Đầy” là các khóa Hải Quân do bộ binh đào tạo Căn Bản Quân Sự. Trường Hạ Sĩ Quan (Đồng Đế) tại Nha Trang cũng  góp phần đào tạo các sĩ quan đoàn viên là các thượng sĩ để trở thành các chuẩn úy đoàn viên.

Theo tài liệu [3] :  Đối với Hải Quân Hoa Kỳ, Trường Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam tại Nha Trang (SQHQ/NT) được xem như ngang hàng với Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ tại Annapolis. V́ thế họ sử dụng danh từ Naval Academy khi đề cập đến Trường SQHQ/NT.

Nhiệm vụ của Học Viện Hải Quân Việt Nam là nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của Hải quân Việt Nam bằng cách đào tạo những sĩ quan giỏi và tận tâm, hướng dẫn SVSQ theo chiều hướng chú trọng về đạo đức, tinh thần và thể chất, đồng thời truyền cho họ những lư tưởng cao cả nhất về trách nhiệm, danh dự và ḷng trung thành.

 

Quân kỳ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang- H́nh trích từ tài liệu  [3] 

 

I – Cơ sở

Theo tài liệu [2] : 

Năm 1965 trong chương tŕnh viện trợ và hiện đại hóa Lực Lượng Hải Quân Việt Nam, Hoa Kỳ đă cho tu bổ, nới rộng cơ sở huấn luyện nhằm đáp ứng và thích nghi cho nhu cầu.

Hăng thầu xây cất Hoa Kỳ RMK đă trúng thầu thực thi công tác tại TTHL/HQ/NT và TTHL/CR (Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh). Quân trường Nha Trang được nới rộng ra cả hai phíạ .Từ Q1 (Quốc Lộ 1)  nới rộng qua phía trái được xây cất thêm 4 dăy nhà song song có khả năng làm chỗ ở cho trên 300 HSQ khoá  sinh, Đoàn Viên chuyên nghiệp. Từ Q13 (Quốc Lộ 13)   nới rộng qua phía phải được xây cất thêm 4 dăy nhà mới và một phạn xá có khả năng làm nơi ăn ở cho trên 400 SVSQ. Ngoài ra các dăy nhà cũ đều được tân trang, giảng đường, lớp học được thiết trí rộng răi và tiện nghi hơn. Đường xá trong Trung Tâm và Thao Diễn Trường được tráng nhựa mới. Toàn thể Trung Tâm có 4 câu  lạc bộ dành cho: SQ, SVSQ, HSQ và Đoàn Viên Khoá Sinh Chuyên Nghiệp. Một thư viện lớn tại dăy G (Xem  Phụ-Bản A Phóng Đồ Trung Tâm dưới đây ).

Phụ bản A Phóng đồ  Trung  Tâm Huấn Luyện  Hải Quân Nha Trang – H́nh trích từ tài liệu  [2] :

Theo tài liệu  [8] : Cư xá sinh viên sĩ quan gồm bốn dăy nhà trệt lợp fibro cement có tên: Alpha,Beta, Omega và Xi. Dăy Omega bị việt cộng pháo kích sập từ hồi khóa 14, một đống gạch vụn vẫn c̣n để y nguyên, chưa xây cất lại. Khóa đàn anh ở mặt trước, khóa đàn em ở mặt sau. Mười tên chung một pḥng, hai giường bố loại khung sắt hai từng để sát hai bên vách cho tám tên, và hai giường gỗ để giữa pḥng cho hai tên c̣n lại. dưới sàn xi măng.

Theo tài liệu [9] : Tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (vào khoảng năm 1965 hay sau đó), vị  Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm , Bùi Hữu Thư, nhận thấy sinh viên sĩ quan và đoàn viên ăn uống quá khổ sở nên đă có vài biện pháp để cải tiến việc ẩm thực.

Cũng trong thời gian này các cố vấn Hoa Kỳ bắt đầu thiết kế việc thành lập trường Điện Tử tại Nha Trang. Câu Lạc Bộ Sinh Viên Sĩ Quan cũng được xây cất trong dịp này. Hai khóa 14 và 15 đang thụ huấn. Vị Chỉ Huy Phó Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang lúc đó là Thiếu Tá Vũ Trọng Đệ, Giám Đốc Quân Huấn là Thiếu Tá Bùi Tiến Rũng và tiểu đoàn trưởng Sinh Viên Sĩ Quan là Đại Úy Lê Phụng, chi nhánh trưởng Anh Ngữ Quân Đội là Đại Úy Giang. Vị Quyền Tư Lệnh Hải Quân lúc bấy giờ là Đại Tá Trần Văn Phấn.

Trong hai tháng đầu sau  khi ông Bùi Hữu Thư  nhậm chức Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm, Tư Lệnh Hải Quân đă ra viếng thăm Trung Tâm bốn lần. Tư Lệnh đă duyệt quân, đă thanh tra các pḥng ốc lớp học, nhà ăn, bệnh xá, câu lạc bộ. Nhân dịp này đang có các cuộc thực tập hành quân thủy bộ cho sinh viên sĩ quan. Sinh viên sĩ quan hai khóa đă được đổ bộ lên Ḥn Tre bằng các tiểu vận đỉnh LCVP và bằng phi cơ trực thăng HU 34 do Không Đoàn 62 cho mượn.

 

Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang năm 1966-1968-Hỉnh trích từ  tài liệu [3] 

 

Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang năm 1967-Hỉnh trích từ tài  liệu [3] 

 

Theo tài liệu  [3] :  Trung tâm Huấn Luyện Hải Quân tại Nha Trang tọa lạc trên băi biển rộng 30 mẫu (mẫu Anh ?) (121.406 m2 - thước vuông tức 12 mẫu tây-hectare ), nằm trên bờ biển miền Trung, một địa điểm lư tưởng cho những người đi biển và có lẽ là khu vực thích hợp nhất ở miền Nam Việt Nam

Khung cảnh xung quanh nh́n chung rất dễ chịu, có đủ cây bóng mát. Nhưng cát là một vấn đề. Hệ thống đường xá ngang qua Trung Tâm Huấn Luyện th́ rất hẹp, nhưng nó giúp giảm bớt phần nào sự phiền toái do cát gây ra. Tuy nhiên, trong khu vực doanh trại của các SVSQ, cát cũng gây khó chịu như một sự thật không thể tránh khỏi trong cuộc sống.

Những khu vườn đá và bụi cây được chăm sóc tỉ mỉ trong khu bảo tồn.

Ṿng đai của Trung tâm Huấn Luyện Hải Quân được bao quanh bởi hàng rào kẻm gai cao và những cuộn dây thép gai bảo vệ ṿng đai. Có một công tác “dưới ánh trăng”  thường làm gián đoạn giờ học buổi tối của sinh viên Trung Tâm. Vài lần trong tuần, họ phải lặng lẽ lục soát các làng cách đó không xa về phía nam, t́m kiếm việt cộng.

Theo tài liệu [10] :   Từ ngoài khơi nh́n vào, quang cảnh thật là hùng tráng, nguy nga. Bức tường thành ṿng đai thật dài, làm một đường nét thật đậm ngang tầm mắt. Những cḥm dương lơ thơ ở khu bệnh xá, cũng như những hàng cây khuynh diệp vươn cao quanh sân cờ.

Bên này nữa, biển khơi gió lộng muôn đời. Trên phía kia là ḥn Rùa, ngang đây là ḥn Tre, và dưới đó ḥn Miếu. Xa ra ngoài kia một chút, thấp thoáng trong nước biển thẫm xanh và những lượn sóng bạc đầu,  lờ mờ nhận ra ḥn Yến.

Theo tài liệu [2] :    Vào tháng 08 năm 1965, lần đầu tiên Trung Tâm bị việt  cộng pháo kích từ mật khu Đồng Ḅ, một quả Rocket trúng ngay khu Sinh Viên lúc bấy giờ là khóa 14, đây là dăy nhà vừa mới xây sau. Hậu quả có 3 SVSQ bị tử thương ( các anh: Nguyễn Hữu Trang, Nguyễn Đăng Đóm và Đinh Ngọc Tri ) và một số đông bị thương nặng.

Hơn nửa theo tài liệu [3]  : Vào giữa năm 1965, một trong 4 khu nhà của SVSQ đă bị súng cối việt cộng pháo kích phá hủy. Theo HQ Trung tá Trần Văn Sơn trong bài viết ‘’ Trường Sĩ Quan Hải Quân và tôi “ : Tháng 8 năm 1965, việt cộng từ Đồng Ḅ sau lưng trường pháo kích vào khu Sinh viên Sĩ Quan làm thiệt mạng 3 Sinh Viên Khóa 14.Trong suốt ba năm, những đống đổ nát này vẫn tồn tại như một lời nhắc nhở về việt cộng.

Cuối cùng, dự án xây dựng doanh trại mới  đă được phê duyệt .Và đă được các khóa sĩ quan hải quân mới đến vào tháng 10 năm 1968 vào ở. (Khóa 17 ra trường tháng 9/1968, Khóa 19 nhập học tháng 10/1968)

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân tại Nha Trang có gần năm mươi (50) công tŕnh cố định bao gồm : Một thư viện với 9.000 cuốn sách ,một bệnh xá lớn, một pḥng tập thể dục, một hội Qrường và pḥng thí nghiệm  Anh Ngữ được chia sẻ giữa Học Viện Hải Quân và Trường Hạ Sĩ Quan Chuyên Nghiệp.  Ngoài ra c̣n có sân bóng chuyền, sân tennis, sân bóng rổ và thao diễn trường rộng lớn nổi bật ngay trung tâm. Phạn xá (pḥng ăn SVSQ) của sinh viên hải quân trưng bày một số thiết kế nghệ thuật có thể sánh ngang với bất kỳ pḥng trưng bày nghệ thuật nào ở Mỹ.

Trung  Tâm Huấn Luyện  Hải Quân Nha Trang chật vật v́ pḥng thí nghiệm sinh ngữ chưa đầy đủ. Thật không may là Trung Tâm lại tập trung quá nhiều vào kết quả của các lần trắc nghiệm tŕnh độ hiểu biết sinh ngữ Anh được tổ chức cho các SVSQ trong môi trường không đạt đủ điều kiện của các cơ sở vật chất.

Hạ tầng cơ sở của Trung  Tâm c̣n nhiều thiếu thốn nhất là nước và điện .

Hệ thống nước trong Trung  Tâm Huấn Luyện  Hải Quân Nha Trang  chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Cần một sự sửa đổi  toàn diện mới để thành lập một hệ thống nước đủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản về vệ sinh và chữa cháy.Không có một nhà vệ sinh nào thỏa măn nhu cầu SVSQ.

Về mặt điện, cơ sở này không đáng tin cậy và nguy hiểm. Cần một nỗ lực tối thiểu sáu tháng để thiết lập đường dây điện hoàn toàn mới.

 

II – Chương Tŕnh Huấn Luyện

Theo tài liệu [2] : 

Đầu năm 1969 do nhu cầu chuẩn bị chuyển giao trách nhiệm chiến trường Sông Biển cho Hải Quân Việt Nam đảm trách, số lượng Sinh Viên mỗi khoá bây giờ là trên 200.

Hoa  Kỳ cũng nới rộng việc huấn luyện các Sinh Viên Sĩ Quan tại quân trường Hoa Kỳ NewPort Tiểu Bang Rhode Island gọi là OCS ( Officer Candidate School ).

Các Sinh Viên Sĩ Quan được Bộ Tư Lệnh Hài Quân (BTL/HQ) chấp thuận theo học các khóa OCS phải qua các giai đoạn như sau:

- Phải có văn bằng Tú Tài 2.

- Phải hoàn tất 12 tuần huấn luyện Căn Bản Quân Sự tại TTHL/Quang-Trung hoặc tốt nghiệp trường Bộ  Binh Thủ  Đức.

- Thi trắc nghiệm Anh Ngữ phải đạt từ 70% trở lên.

Trường OCS nằm trên một ḥn đảo lớn của Tiểu Bang Rhode Island, gần trường Naval War College và Căn Cứ Hải Quân Đệ Lục Hoa Kỳ. Trường có diện tích rộng lớn hơn TTHL/HQ/NT, có khả năng cung cấp nơi ăn chỗ ở cho trên 1300 khóa sinh. Chương tŕnh huấn luyện các Sĩ Quan OCS là 6 tháng, gồm các môn học chú trọng nhiều về thực hành như sau: Vận Chuyển,Vận Chuyển Chiến Thuật, Hàng Hải, Pḥng Tai, Cứu Tàu Lâm Nạn, Hải Pháo, Lư Thuyết Thuyền Bè, Căn Bản Quân-Sự, Lănh Đạo Chỉ Huy và Hành Quân tập trận đổ bộ.

Sau 26 tuần lễ thi tốt nghiệp, rồi tiếp tục học về Chiến Tranh Sông Ng̣i ( Brown Water Navy Operation ) tại Treasure Island, San Francisco Californiạ . Khoảng 2 tuần lễ thực tập trên các Giang Đĩnh các loại như: Command,Monitor, ASPB, Tango, LCVP, LCM, PBR, kể cả các Duyên Tốc Đĩnh ngoài biển như PCF. Trong thời gian này có 3 ngày đêm tập trận hành quân Thủy Bộ tại Mare Island Calfornia, địah́nh và dàn cảnh giống chiến trường VN, bị phục kích và Chiến Đĩnh đánh trả bằng vũ khí đủ loại như thật, người Mỹ đóng vai việt cộng.

Sau khi hồi hương lễ gắn cấp bậc Chuẩn Uư được tổ chức trọng thể tại BTL/Hạm Đội. Một năm sau th́ có Quyết Định thăng cấp Thiếu Uư trừ bị. Sĩ Quan OCS được huấn luyện mỗi khóa số lượng Sinh Viên là khoảng 60. Khóa cuối cùng là OCS 12 gồm có cả các Sĩ Quan Bộ Binh từ Thiếu Uư đến Trung Uư cũng được tham dự, sau khi măn khóa th́ về phục vụ tại các đơn vị Hải Quân.

Khóa OCS đầu tiên vào tháng 02 năm 1970, khóa 2 vào giữa tháng 03, cứ thế mỗi khóa cách nhau 6 tuần. Khóa OCS 12 hoàn tất vào tháng 09 năm 1971.

Sau chương tŕnh OCS th́ Hoa Kỳ chuyển qua huấn luyện IOCS ( International Officer Candidate School ), khóa đầu tiên gồm 197 Sinh Viên trong số đó có: 22 SVHQVN, 1 Sĩ Quan Ba Tư, 7 Sĩ Quan Thổ Nhỉ Kỳ, 8 Sĩ Quan Á Căn Đ́nh, 2 Sĩ Quan Campuchia, số c̣n lại là Sinh Viên và Sĩ  Quan Hoa Kỳ. Tổng cộng khoảng trên 750 Sinh Viên Việt Nam đă thụ huấn các khóa Trần Hưng Đạo tại Hoa Kỳ.

Ngoài ra tại Úc cũng có phụ giúp huấn luyện 2 khóa OCS với số lượng tổng  cộng khoảng trên 10 SVHQ/VN.

Tại quân trường Nha Trang kể từ Khoá 19 đến Khóa 23 thời gian huấn luyện là 1 năm. Về văn hoá vẫn dạy theo chương tŕnh đại  học như các khóa đàn anh. Về quân sự được tổ chức và điều hành theo hệ thống tự chỉ huy. Sau khi thụ huấn một năm, các Sinh Viên tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Uư. Được đi thực tập thời gian một năm theo chương tŕnh OJT (On Job Training ). Khi hoàn tất mang cấp bậc Thiếu Úy trừ  bị.

Từ Khóa 24 về sau việc huấn luyện trở lại áp dụng chươngtŕnh 2 năm và tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Uư trừ bị.

Cuối năm 1971, sau khi Khóa 22 ra trường th́ Trung Tâm chuẩn bị tiếp nhận thêm các Sĩ Quan khóa sinh, được gọi là khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Đó là những Sĩ Quan có cấp bậc từ Chuẩn Úy đến Thiếu Tá đă tốt nghiệp tại các quân trường Bộ Binh và đang làm việc tại  các đơn vị bờ của Hải Quân, kể cả các Sĩ Quan ngành Cảnh Sát thuộc các Lực Lượng Giang Cảnh.Thời gian thụ huấn là 6 tháng lư thuyết, chương tŕnh thuần túy về hải nghiệp, khi tốt nghiệp th́ vẫn mang cấp bậc như cũ nhưng danh xưng bây giờ là HQ. Được chỉ định phục vụ trên các chiến hạm. Khóa 1 Sĩ Quan Đặc Biệt có sự tham dự của Trung Uư Trần Minh Chánh là con của Đề Đốc Trần Văn Chơn đương kim Tư Lệnh Hải Quân lúc bấy giờ. Đồng thời TrungTâm c̣n huấn luyện 3 tháng chuyên nghiệp cho các khoá sinh trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt trong mùa văn hóạ

Đầu năm 1973 có 30 Sinh Viên Sĩ Quan Đà Lạt thuộc 2 khóa 25 và 26 đến thụ huấn 3 tháng lư thuyết.

Tháng 09 năm 1974, Khóa 25 Sinh Viên Hải Quân Nha Trang măn khóạ Quân trường Nha Trang chỉ c̣n lại Khóa 26 là khóa cuối cùng của Trung Tâm.

Cho đến cuối tháng 3 năm 1975, thành phố Nha Trang được lệnh di tản.

Theo tài liệu [5] : Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang đă thực hiện hết sức cho quân chủng Hải Quân nói riêng, tṛn trách nhiệm đối với Quân lực và Tổ Quốc Việt Nam Cộng Ḥa cho tới tháng 4/1975 th́ chấm dứt nhiệm vụ.

 

Sơ đồ tổ chức Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (TTHL/HQ/NT) – H́nh trích từ tài liệu [2]  

 

Như trong sơ đồ tổ chức, khối Quân Sự Vụ và Văn Hoá Vụ liện hệ mật thiết đến việc huấn luyện cho khóa sinh.

Có 2 Liên Đoàn:

a ) Liên Đoàn SVSQ gồm 2 khoá, một khóa đàn anh và một khóa đàn em.

b ) Liên Đoàn Chuyên  Nghiệp gồm các khoá sinh tân tuyển cũng như các khoá sinh học chuyên nghiệp, các Hạ Sĩ Quan học chuyên nghiệp.

Trách nhiệm về sinh hoạt, quân phong quân kỷ, hệ thống tự chỉ huy, các cuộc thanh tra, tổ chức các cuộc lễ diễn hành và lễ măn khóạ

c ) Pḥng Thể Thao đảm trách việc huấn luyện thể dục, thể thao và vỏ thuật.

 

Theo tài liệu [3] : Một con số ấn tượng là 19% được dành cho giáo dục thể chất, trong đó có Tae-Kwon-Do của Hàn Quốc rất phổ biến, nhấn mạnh đến đ̣n chặt tay và đá chân được sử dụng để pḥng thủ cũng như tấn công. ( Huấn luyện viên Tae-Kwon-Do của khóa 17 là một sĩ quan Đại Hàn, cấp bậc Trung úy, ông có Đệ thất đẳng Huyền đai) .

 

Sinh Viên Khóa 17 thực tập vơ Đại Hàn- H́nh trích từ tài liệu [3]  

 

Có 2 trường:

 a Trường Sĩ Quan Hải Quân, có một hiệu trưởng.

b ) Trường Sơ Đẳng Chuyên Nghiệp Hải Quân, có một hiệu trưởng.

Trách nhiệm về các chương tŕnh huấn luyện, tổ chức thi định kỳ, thi trắc nghiệm và thi măn khóạ

c ) Quản Lư thư viện và pḥng Trợ Huấn Cụ.

Truyền Thống Trường Sĩ Quan Hải Quân tức là Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân.

Khi nhập khóa các tân Sinh Viên được đặt dưới sự hướng dẫn và điều hành của khóa đàn anh theo tập tục Hải Quân. Sinh Viên mỗi khi di chuyển từ 2 người trở lên là phải bước đều. Di chuyển tập thể là phải có người chỉ huy đếm và hát theo nhịp.

 

III – Chương Tŕnh Huấn Luyện

Theo tài liệu [2] :  Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang từ năm thành lập 1951 (hay 1952) cho tới ngày mất nước 30/4/1975 đă đào tạo được 26 khóa . Khóa 1 đến Khóa 6 SQHQ/VN  do Hải  Quân Pháp trực tiếp Chỉ Huy và huấn luyện tại Việt Nam.

Ngoài ra, Hải  Quân Pháp c̣n mở 4 khóa tại  Trường Hải Quân Pháp Brest (thuộc thành phố Brest-Pháp) từ năm 1952 đến 1955 để huấn luyện  SQHQ/VN song song với Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang.

Vào khoảng năm 1969 đến 1971 , Hoa  Kỳ nới rộng việc huấn luyện các Sinh Viên Sĩ Quan tại quân trường Hoa Kỳ gọi là OCS ( Officer Candidate School ).Sau đó, Hoa Kỳ  chuyền qua  huấn luyện IOCS ( International Officer Candidate School ).

Ngoài ra, Úc  Đại Lợi cũng có phụ giúp huấn luyện 2 khóa OCS với số lượng tổng  cộng khoảng trên 10 SVHQ/VN.

 

Theo tài liệu [3] :  Chương tŕnh giảng dạy của Học Viện Hải Quân (Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang)  mang lại sự cân bằng hợp lư giữa các môn quân sự thuần túy và kỹ thuật, với cán cân nghiêng vế quân sự .

 Chương tŕnh nhấn mạnh đến hàng hải và huấn luyện trên biển, đồng thời thử thách SVSQ bằng cách dành nhiều thời gian rèn luyện cơ thể.

Giáo tŕnh bao gồm nhiều nội dung hơn người ta mong đợi về một trường hải quân đă tồn tại 16 năm. Cụ thể, khoảng 36 lĩnh vực giảng dạy hiện đang được theo đuổi, với 38% thời gian trong giảng đường và các bài tập thực hành dành cho các môn quân sự.Các khóa học kỹ thuật chiếm 27% số giờ học của kḥa sinh.

Giảng dạy tiếng Anh là một phần không thể thiếu trong chương tŕnh học tập của SVSQ. Mỗi tuần có bốn giờ được dành cho các lớp tiếng Anh. Học viện Hải Quân sẽ sớm có một pḥng huấn luyện tiếng Anh hiện đại mà Hải Quân Việt Nam có thể tự hào. Hoàn toàn có điều ḥa không khí, pḥng huấn luyện 60 gian của nó sẽ cho phép các học viên có đầy đủ khả năng nghe, ghi âm và phát lại. Đội ngũ  giảng viên của ban ngôn ngữ là sự kết hợp của nhiều tài năng, bao gồm ba sĩ quan bộ binh, một chuyên gia ngôn ngữ dân sự của Mỹ, và sáu đoàn viên của nhóm Cố vấn Hải Quân Mỹ.

Các hoạt động về tâm lư chiến, chiến thuật bộ binh, huấn luyện trong đội h́nh, thanh tra và diễn hành chiếm 10 đến 12% c̣n lại của chương tŕnh giảng dạy. Không một học viện quân sự hay hải quân nào dám bỏ qua một phần nghi thức và lễ nghi nhất định, và Học viện Hải quân Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.

Chương tŕnh giảng dạy rất năng động. Tuy nhiên, sách giáo khoa và dụng cụ huấn luyện cũng rất cần thiết. Chỉ cần quan sát một lớp học sẽ nhận ra vấn đề một cách rơ ràng. SVSQ hiếm khi sử dụng sách giáo khoa của riêng ḿnh; Thực tế, điều này gần như không thể xảy ra. Tất cả mọi thứ được viết trên bảng đen và SVSQ phải ghi chép lại một cách cẩn thần vào tập vở. Thỉnh thoảng, SVSQ có thể được phát tay tài liệu về một chủ đề cụ thể, nhưng điều này chỉ làm nổi bật những vấn đề mà các giáo sư phải đối mặt. Việc cô đọng một tài liệu kỹ thuật, đồng thời dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt trở thành một bài học để phân phối cho SVSQ là một nhiệm vụ không hề đơn giản.

Phần lớn tất cả đồ họa đồ đều được chuẩn bị bằng tay. Và liệu có ai thích thú với ư tưởng dạy đến năm môn học khác nhau trong khi c̣n phải bận tâm đảm đang một công việc hành chính khác? Trong thời đại của các chuyên gia, một đề nghị như vậy chắc chắn sẽ không được đón nhận bằng sự nhiệt t́nh. Đơn giản là không có đủ sĩ quan được đào tạo để đảm nhận chức vụ giáo sư cho Học viện. Nỗ lực cá nhân của những người được chọn để giảng dạy một cách có hiệu quả, thực sự rất đáng kính phục.

Giai đoạn huấn nhục :

Theo tài liệu [9] : Đại Úy Lệ Phụng là cựu sinh viên trường Hải Quân Brest Pháp, nên ông cũng cho các sinh viên áp dụng một số các h́nh thức đă có từ lâu tại quân trường Pháp như những truyền thống, trong đó có việc huấn nhục. Các sinh viên khóa đàn anh có quyền tập cho khóa đàn em đức tính nhẫn nhục chịu đựng và vâng lời cấp trên trong các tháng đầu khi đeo cầu vai đen không có dấu hiệu.

Theo tài liệu [3] : Thời gian dự bị (huấn nhục và cơ bản quân sự) kéo dài 16 tuần tại Nha Trang là điểm dừng chân tiếp theo dành cho những ứng viên trúng tuyển.

Theo tài liệu [2] :   Khoảng từ 1 tuần đến 30 ngày sau là CHT (Chỉ Huy Trưởng)  cho phép Khối Quân Sự Vụ để khóa đàn anh huấn nhục khoá đàn em. Thời gian huấn nhục kéo dài theo truyền thống qui định là một tháng. Giờ huấn nhục nằm ngoài giờ học tập. Chương tŕnh huấn nhục phải được thông báo trước cho Sĩ Quan Trực quân trường.

Trọng tâm chương tŕnh huấn nhục nhằm cho khóa đàn em biết tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên. Một khi bước chân vào đời quân ngũ và sẽ trở thành các cấp Chỉ Huy trong tương lai, thi hành trước báo cáo sau. Bất cứ một sự thi hành chậm trễ hay không đúng yêu cầu,khóa đàn anh áp dụng kỷ luật đối với cá nhân hay tập thể sai phạm bằng các h́nh phạt như hít đất, chạy ṿng quanh sân hay ngồi xổm tay chống ngang hông đi chân vịt ...

Mùa huấn nhục là thời gian mà khóa đàn anh tự tạo ra những tṛ chơi vừa có tính ra lệnh vừa có tính bất ngờ. Đối với khóa đàn em th́ đó là một thời kỳ căng  thẳng về kỷ luật, hệ thống quân giai và quân phong quân kỷ nhập môn.

Khi giai đoạn huấn nhục chấm dứt, toàn thể khóa đàn anh làm lễ tiếp nhận khóa đàn em đă trải qua thời kỳ gian khổ và kết t́nh " Bố-Con ". Khi đă nh́n nhận " Bố-Con " th́ khóa đàn anh giúp đỡ và tạo điều kiện cũng như hướng dẫn cho đàn em khi cần đến. Trong lịch sử huấn nhục tại trường Hải Quân Nha Trang từ trước đến nay theo một truyền thống có tính cách quốc tế rất tốt đẹp. Sau khi hết giai đoạn khổ nhục th́ khóa đàn anh và đàn em sống với nhau rất hài ḥa, chấp hành tốt các kỷ luật và hệ thống quân giai trong hệ thống tự chỉ huy. Ít có trường hợp gây hận thù.

Theo tài liệu [9] : Các h́nh thức huấn nhục gồm có chạy ṿng quanh sân vận động, hít đất, nhẩy ḷ c̣, ăn các thức ăn bị pha trộn, khóc như có cha mẹ chết, học và đọc thuộc ḷng một tài liệu do đàn anh chỉ thị; đọc thực đơn thành lời ca, bị dựng dậy nửa đêm và tập hợp ngoài sân để thao diễn căn bản quân sự… Sau này một vài đàn anh đă làm quá trớn, như bắt nằm phơi nắng trên vỉ sắt. Những h́nh phạt nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của đàn em đă làm cho mất ư nghĩa của việc huấn nhục và gây nên những mối căm thù giữa một số sinh viên.

Tuy nhiên,chúng tôi  (tác giả tài liệu [2] ) rất bàng hoàng khi nghe tin có khóa một số Sinh Viên bị chết v́ tṛ chơi huấn nhục. Trong số đó có một Sinh Viên khóa 17, rồi th́ một Sinh Viên khóa 18 v́ quá hoảng sợ mà phải đào ngũ. Tại sao vậy? Việc đó làm nhà trường mang tai tiếng không ít.

Khi tôi ( tác giả tài liệu [2]  ) đảm nhận công việc Khối QSV thay thế cho HQ Thiếu Tá Cấn VănTâm th́ lúc đó thời kỳ huấn nhục cho khóa 23 đă kết thúc được một tuần. Tuy nhiên dư âm vẫn c̣n v́ có một số trường hợp chết người vừa mới xảy rạ .Thân nhân từ Saig̣n ra nhận xác và than khóc trách móc quân trường. Sau khi sự việc được điều tra y chứng của bệnh viện th́ xác nhận các trường hợp đó bị chết v́ kiệt sức sau thời gian thực tập trên biển, không phải do vụ huấn nhục.

Tôi (tác giả tài liệu [2]  ) đă nghe kể rằng: Có khóa đàn anh đặt ra những h́nh phạt rất độc đáo và siêu đẳng hơn các bậc " Sư Tổ " đàn anh ngày trước. Như một đàn anh bắt phạt một đàn em sau buổi ăn trưa xong, chui vào thùng phi cho lăn tṛn trên sân trường giữa trưa nắng. Sau đó th́ đàn em này bị đau bệnh một thời gian. Cũng có vài đàn anh áp dụng huấn nhục trong bữa ăn, chế nước mắm nước muối vào chung một chén bắt buộc đàn em phải uống hết. Hậu quả gây cho một số đàn em bị đau thận phải đi khai bệnh. Lại cũng có đàn anh bắt phạt một đàn em bằng cách treo 2 chân ngược đầu trên quạt trần, xong mở công tắc điện cho quạt quay tṛn. Nghe thật khủng khiếp, dĩ nhiên các h́nh phạt đó chỉ lén lút xảy ra trong thời gian huấn nhục và Cán Bộ trách nhiệm không có mặt tại chỗ.

 

 

Huấn nhục Khóa 17- H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

Hoàn thành giai đoạn huấn nhục và cơ bản quân sự  ứng viên chính thức mang danh hiệu là Sinh viên Sĩ quan năm thứ nhất và mang cầu vai Alpha và được đi bờ ra Nha Trang hay xuống Chụt, Cầu Đá lần đầu tiên. Và từ đó đàn anh trở thành những người bạn tốt, dẫn dắt chỉ bảo cho đàn em thành công tại quân trường.

 

Theo tài liệu  [2]   : Mặc dù thời gian học tại quân trường là 2 năm, 18 tháng hay một năm th́ các môn học chính vẫn như nhau, chỉ có rút ngắn cho thích hợp với thời gian.

 - Giai Đoạn 1: Sinh Viên Sĩ Quan từ cầu vai đen đến Chuẩn Uư, phải hoàn tất các môn học như: Toán Học Đại Cương, Lượng Giác,H́nh Học Phẳng và Lượng  Giác Không Gian (Lượng Giác Cầu),Vận Chuyển Thực Tập và Lư  Thuyết Nhập Môn, Điện Từ Trường, Điện Kỹ Nghệ Cấp 1, Anh Văn và các môn phụ ,Căn bản quân sự , tháo ráp vũ khí nhẹ và thực hành tác xạ.

 

Sinh viên sĩ quan qua các giai đoạn- H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

Theo tài liệu  [9] : Các sinh viên  theo  chương tŕnh huấn luyện  hai năm, sau vài tháng đầu, được đeo phù hiệu alpha, cuối năm thứ nhất được mang cấp bực chuẩn úy, và cuối năm thứ hai, khi ra trường được mang cấp bực thiếu úy.

   

- Giai Đoạn 2: Sinh Viên chuẩn  bị tốt nghiệp Thiếu Uư gồm có các môn chính trong Hải Nghiệp như Vận Chuyển Lư Thuyết, Hàng Hải Thiên Văn, Sức Bền Vật Liệu, Lư  Thuyết Thuyền Bè tầu nổi và tầu ngầm, Cơ  Khí Động  Cơ Nổ 2 Th́ và 4 Th́,  Điện Kỹ Nghệ cấp 2, Vận Chuyển Chiến Thuật, Anh Văn và các môn phụ.

Có các môn chính như sau: Động Cơ Nổ 2 Th́ và 4 Th́, Động Cơ Diesel, Điện Kỹ Nghệ, Pḥng Tai, Sức Bền Vật Liệu, Lư Thuyết Thuyền Bè Áp Dụng cho tầu nổi và tầu ngầm. Chú trọng nhiều về nguyên tắc và thực hành các loại động cơ. Các môn phụ như ngành Chỉ Huy, kể cả căn bản quân sự, tháo ráp vũ khí nhẹ và thực hành tác xạ.

Khóa Ngắn Hạn 6 Tháng và 3 Tháng:

Các khóa Sĩ Quan Đặc Biệt th́ thời  gian học 6 tháng nên chỉ học các môn chính của gia  đoạn 2 trong Hải Nghiệp như Hàng Hải Lư Thuyết, Vận Chuyển Lư Thuyết, Khí Tượng, Vận Chuyển Chiến Thuật, một số môn phụ do Khối Văn Hóa Vụ chọn lựa và soạn thảo cho thích hợp với yêu cầu.

Các khóa 3 tháng của Sinh Viên trường Vơ Bị Đà Lạt th́ chú trọng các môn Hải Nghiệp như Vận Chuyển, Hành Hải  Lư Thuyết và Thực Hành.

Xin ghi thêm ,theo tài liệu [8] : Những môn căn bản của sĩ quan như: Hàng Hải Cận Duyên, Hàng Hải Viễn Duyên, Hàng Hải Thiên Văn, Vận Chuyển Đội H́nh, Vận Chuyển Chiến Thuật, Hải Pháo (yểm trợ và pḥng không), Ngư Lôi tức torpedo, Thủy Lôi là depth charge, Lănh Đạo Chỉ Huy… v. v.

V́ phải lănh đạo chỉ huy nên sĩ quan cũng phải học sơ qua 14 nghề của thủy thủ: Pḥng Tai (cứu hỏa), Cơ Khí, Điện Khí, Giám Lộ (cờ đèn), Ra-dar So-nar, Trọng Pháo, Truyền Tin, Vận Chuyển, Bí Thư, Tiếp Liệu, Ẩm Thực, Chiêu Đăi… Và những món ăn chơi như Khiêu Vũ, Thái Cực Đạo, Xă Giao Hải Quân …

 

IV – Chương Tŕnh Thực Tập:

Tùy theo thời gian học tại quân trường mà việc thực tập áp dụng có khác nhau. Những khóa từ 18 tháng đến 2 năm th́ thực tập hải hành trên chiến hạm nằm trong chương  tŕnh huấn luyện tại quân trường. Các khóa 1 năm th́ sau khi măn khóa được đi thực tập OJT trên chiến hạm một năm.

Tại Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang  ,từ năm 1957 đến 1960, mỗi khóa không quá 60 Sinh Viên.

Năm 1961, Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang thu nhận 82 Sinh Viên và từ Khóa 12 đến Khoá 18 là trên 100.

Năm 1956 để huấn luyện Hải  Nghiệp cho Sinh Viên Khóa 7 và các Khóa kế tiếp,tại vịnh Cầu Đá thường xuyên có 3 chiếc Trục Lôi  Hạm đó là HQ 111 ( Hàm  Tử ), HQ 112 (Chương Dương ) và HQ 113 ( Bạch Đằng ). T́nh trạng các chiến hạm này quá cũ nên không c̣n khử từ để xử dụng cho việc rà ḿn. Tất cả các vị Hạm Trưởng đều là Sĩ  Quan Hải Quân Việt Nam.

Theo tài liệu [9] : Hạm trưởng chiếc Chương Dương HQ 112 lúc đó là Hải Quân Trung Úy Trần B́nh Sang. Ba chiếc HQ 111 ( Hàm  Tử ), HQ 112 (Chương Dương ) và HQ 113 ( Bạch Đằng  này được biệt phái ra Nha Trang để huấn luyện sinh viên sĩ quan và thủy thủ trong việc hải hành, vận chuyển, trọng pháo, pḥng tai, cơ khí…. Các tầu này làm bằng cây được đóng để thực hiện công tác rà ḿn cận duyên. Tuy nhiên v́ quá cũ kỹ nên không c̣n được khử từ để sẵn sàng thi hành loại công tác này.

Mỗi buổi sáng đúng 8 giờ, Hạm Trưởng thả giây mũi cột phao và tiến ra ngoài vịnh Nha Trang, chạy theo một hải tŕnh đă vẽ sẵn trên hải đồ là bọc quanh Ḥn Tre, và trở về Cầu Đá lúc 12 giờ trưa. Mấy chiếc GMC chở sinh viên lúc đó là khóa 7 Nha Trang xuống chiến hạm. Trong thời gian phục vụ trên chiếc HQ 112 này chúng tôi (tác giả tài liệu [8])  đă cùng với HQ 111 và HQ 113 chở sinh viên sĩ quan khóa 7 đi thực tập ra Đà Nẵng.

Từ năm 1961 cho đến năm 1963, các Trục Lôi  Hạm (HQ 111,112 và 113) đă lần lượt được phế thải. Các Trục Lôi Hạm HQ 114, HQ 115, HQ 116 thay thế, ngoài việc huấn luyện c̣n tham gia tuần pḥng lănh hải.

Ngoài ra theo tài liệu [3]   c̣n có  Huấn Luyện Hạm 451,xem h́nh dưới đây :

 

 

Huấn Luyện Hạm 451-H́nh trích từ tài liệu [3]    

 

Xin ghi thêm vài chi tiết về  Huấn Luyện Hạm 451 trích từ tài liệu [10] :   HQ 451, tức Huấn Luyện Hạm Quá Giang, hậu thân của chuyển vận hạm Định An do Pháp bàn giao cho Hải Quân Việt Nam vào năm 1955, là một chiếc tàu cũ kỹ, rỉ sét, sắp mục đến nơi. Đây là loại tàu chuyển vận hàng nhẹ, light cargo freighter của Mỹ, có cách kiến trúc giống như những chiếc tàu buôn. Nếu không sơn màu xám đậm và vẽ số Hải quân, người ta có thể nói đây là một chiếc nhỏ nhứt trong những chiếc tàu hàng của bà Ngô Đ́nh Nhu, những chiếc Nhựt Lệ, Tiền Phong, Thống Nhứt, Trường Sơn, Phú Quốc. Loại tàu buôn một máy, một chân vịt. Một cột buồm, một ra-đa. Một trụ cần trục, nhưng, không phải một mà là bốn đ̣n ngang như bốn cánh tay dùng để lên xuống hàng cho đủ bốn hướng, tả hữu hạm ở phía trước mũi và sau lái. C̣n những con số kỹ thuật của chiếc tàu này th́ lại là những con số gần đúng với bội số của số mười. Rộng Rộng mười thước, dài năm chục thước. Vận tốc mười hải lư. Máy một ngàn mă lực. Trọng tải một ngàn tấn.

Thân tàu, nếu nh́n ngang, như được chia làm ba phần rơ rệt. Phần mũi và lái nhô lên cao cho dễ điều khiển, pḥng thủ và khoảng giữa thấp xuống cho dễ nhận hàng, bốc hàng. Phần lái rộng hơn phần mũi có hai từng và đài chỉ huy, tầng dưới có lan can chạy quanh tả hữu hạm và sân trống đằng sau đuôi. Pḥng ăn, pḥng ngủ cho thủy thủ đoàn và nhà bếp được đặt ở tầng này. Sân mũi là nơi tọa lạc của dàn cà-nông bô-pho bốn mươi ly đơn… Các hầm chứa hàng, bây giờ, đă được sửa chữa và sơn phết lại làm pḥng tạm trú cho các khóa sinh, sinh viên sĩ quan. Nhiều giường bố, chồng đôi chồng ba, được gắn thêm dọc theo mấy bức vách. Hai tấm tăng lớn phủ lên gần hết sân giữa con tàu, chỉ chừa một khoảng trống bao quanh cái trụ cần trục…

Vừa bước vô cabin tạm trú, người ta cảm thấy như muốn ngộp thở. Mùi sơn, mùi sét, mùi ẩm mốc trộn lẫn với nhau… y như mùi xú uế xông lên nồng nặc. Ánh sáng vàng vọt từ những bóng đèn tṛn lu câm, như thiếu kilowatt mặc dù đang câu điện bờ dẫn tới từ nhà đèn, đă không làm cho cơi âm u tăm tối như địa ngục này sáng sủa thêm chút nào hết. Trên trần, giăng mắc chằng chịt những dây những ống. Dưới sàn, tua tủa mọc lên những trụ những cột. Luồng hơi nóng từ bên trong cái hầm có vỏ làm bằng kim khí này hừng hực thổi ra cửa như muốn đẩy người vào dội ngược trở lại. Trời đất, nếu không có máy lạnh th́ làm sao mà sống nổi với cái cảnh màn gang chiếu thép này đây, chàng tự hỏi. Nhiều quạt tṛn gắn trên xà ngang thổi vù vù, quay qua quay lại, cũng không làm sao xua đuổi được cái nóng cho nó đi chỗ khác chơi. Chỉ nơi nào gần ống gió thông hơi, như những ống loa dẫn xuống từ bên trên, th́ đỡ ngột ngạt hơn.

Quang cảnh Cầu Đá hôm nay khác hẳn mọi ngày, thêm một điểm nữa, là v́ đang có hằng trăm sinh viên sĩ quan hải quân tuần hành hàng một xuống tàu HQ 451 để “thực tập đi biển.” Một tuần lễ lênh đênh trên trùng dương sóng nước, một cơ hội quí báu nhằm áp dụng và thực hành những ǵ đă học qua trên lư thuyết. Về các môn hàng hải. Nào là hàng hải cận duyên, hàng hải viễn duyên, và luôn cả hàng hải thiên văn mặc dù luôn luôn… thấy bờ. Và nếu cần, sẽ thực tập hải hành trong sương mù, hoặc hải hành trong giông băo khi có những điều kiện thuận tiện.

 

Theo tài liệu  [2] :  Hàng năm có chương tŕnh khử từ tại Subic Bay Phi Luật Tân, mỗi chuyến khử từ được sắp xếp cho các Sinh Viên đi thực tập hải hành viễn dương. Các tân Sĩ Quan cũng được Hải Quân Hoa Kỳ phối hợp cho thực tập OJT trên chiến hạm Mỹ.

Cuối năm 1961, trong chương tŕnh trang  bị cho các đơn vị Hải Thuyền ( sau gọi là Duyên Đoàn ) của các Duyên Khu 1 và Duyên Khu 2 ( sau gọi là Vùng Duyên Hải ). khoảng 40 ghe có trang bị máy và buồm từ Sàig̣n ra miền Trung ghé vào bến Cầu Đá Nha Trang cho Sinh Viên thực tập.

Giám Đốc Quân Huấn kiêm Tiểu Đoàn Trưởng Sinh Viên lúc bấy giờ là Hải Quân Trung Uư Đỗ Kiểm ( Khóa 3 Brest sau vinh thăng Đại Tá ), cùng một số Cán Bộ và Huấn LuyệnViên dẫn Sinh Viên đi hành quân đổ bộ đảo Ḥn Tre, Nha Trang bằng thuyền.

Tất cả Sinh Viên chia nhau từng nhóm cứ 2 đến 4 người lên một ghe. Ghe bắt đầu căn buồm chạy quanh các đảo trong vịnh Cầu Đá, cuối cùng đổ bộ vào băi Bắc của Ḥn Tre. Đoàn quân được trang bị vũ khí cá nhân súng GARANT M1, đạn dược đầy đủ, máy truyền tin PRC 10 cho mỗi Trung Đội. Vào tới nơi, đoàn quân được lệnh cấm trại, từng Trung Đội nằm rải rác trên các triền đồi. Đến 9 giờ tối hôm đó cuộc hành quân bắt đầu tiến quân theo con đường ṃn qua băi Nam. Sau đó băng rừng leo núi suốt đêm để đến mục tiêu là Hải Đăng Ḥn Tre. Sáng ngày hôm sau tất cả xuống ghe tại bờ Nam và trở về lại quân trường.

Ngoài ra chương tŕnh học cũng có chu kỳ cứ 3 tháng cho Sinh Viên đi di hành. Vai mang balô, súng cá nhân Garant M1 tổng cộng trọng lượng mỗi người khoảng 15 kí lô. Bắt đầu đi bộ từ Trung Tâm xuống Chụtt, Cầu Đá, ṿng theo đường ṃn quanh núi qua khu B́nh Tân Cửa Bé ra tới Ngă Ba Chụtt trở về trường. Mục đích của việc đi bộ là tạo cho Sinh Viên thêm sức chịu đựng để khi đi tầu bớt say sóng. Có khóa đi di hành qua Đồng Đế rồi trở về.

Năm 1962 có tầu ngầm Hoa Kỳ USS Queen Fish ghé bến cho Sinh Viên thực tập cùng một số chiến ham Việt Nam tham dự. Sinh Viên được chia ra thành từng nhóm mỗi nhóm 20 người lên tầu ngầm một ngày. Tầu ngầm và các chiến hạm thực tập săn đuổi ngoài khơi NhaTrang.

Cũng năm 1962 có Tuần Dương Hạm Pháp mang tên Jeanne D’Arc trong chuyến viễn du để thực tập cho Sinh Viên, ghé vào vịnh Nha trang. Một số Sinh Viên Việt Nam được đại  diện lên tầu dùng cơm tối với Sinh Viên Hải-Quân Pháp. Ngoài ra chiến hạm Pháp c̣n mang theo một số kiếm truyền thống của trường Hải Quân. Các Sinh Viên Sĩ Quan Việt Nam được mua mỗi người một cây " kiếm " làm kỷ niệm và xử dụng vào các cuộc lễ lớn.

Giữa năm 1962 ,toàn thể Sinh  Viên khóa 10 HQNT được đi thực tập trên các chiến hạm một tháng.Khởi đầu từ Cầu Đá Nha Trang nhập hạm, hải hành xuyên đại dương qua Subic Bay, Phi Luật Tân và trở về lại Cầu Đá Nha Trang.

Thời gian huấn luyện cho các khóa Sĩ Quan theo chương tŕnh b́nh thường là 2 năm. Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy trừ bị. Cuối năm 1962 v́ nhu cầu khẩn thiết để tiếp nhận các chiến hạm , chương tŕnh được rút ngắn 6 tháng, do đó từ Khóa 11 cho đến Khoá 18 là áp dụng chương tŕnh huấn luyện 18 tháng. Số lượng Sinh Viên Sĩ  Quan được thu nhận cũng thay đổi.

Đặc biệt tháng 5 năm 1963 khi Khóa 13 nhập trường th́ có 15 Thiếu Úy Hiện Dịch tốt nghiệp Khóa 16 trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt nhập học để chuyển ngành qua Hải Quân hiện dịch. Tuy nhiên khi khai giảng th́ chỉ c̣n 7 Sĩ Quan tham dự khóa học.

Năm 1963 được dự trù các tân Sĩ  Quan đến thực tập OJT tại San Diego Hoa Kỳ, nhưng sau đó thực tập trên các chiến hạm thuộc Đệ 7 Hạm Đội đang hoạt động tại các nước như Nhật Bản, Phi Luật Tân, Đài Loan, HongKong, Singapore v.v. Từ khi Đệ 7 Hạm Đội tham  gia Market Time của CTF 115 tại Cam Ranh th́ các tân Sĩ Quan nhập hạm ngay tại vùng biển Việt Nam và nghỉ bến tại các bến cảng ngoại quốc. Trên mỗi chiến hạm là 2 tân Sĩ Quan Việt Nam thực tập.

Học trong quân trường th́ không thấy ǵ, v́ ai cũng như ai. Nhưng khi bước chân xuống chiến hạm th́ nhiều chuyện lạ đời và bất ngờ xảy ra ,nhất là những chuyến đầu tiên, có anh vừa mới xuống xe GMC c̣n đang đứng trên cầu. Nh́n thấy những chiến hạm HQ 114, HQ 115, HQ 116 đang cập cầu lắc lư tại chỗ là tự nhiên bắt đầu buồn nôn ngay tại cầu. Có anh nói chuyện cười đùa vui vẽ hồn nhiên, bước chân xuống tầu, chạy được một khoảng ra khỏi vịnh Cầu Đá là mặt mày xanh lơ bèn t́m nơi an nghỉ. Anh nào c̣n tỉnh táo tới giờ lấy thức ăn ra, có anh vừa ăn trái cà chua th́ sau đó ói ra màu đỏ cà chuạ. Có anh ăn quả chuối th́ lại cho ra chè chuối. Trong khi có anh không ăn được ǵ cả nên cho mật vàng, mật xanh, rồi không c̣n chút mật nào để cho cá nữạ…th́ c̣n nhiều anh đầy thiện chí sẳn sàng t́nh nguyện xơi thế! Lại có anh, tầu càng lắc, sóng càng to th́ càng tỉnh bơ, thản nhiên ph́-phà điếu " Bastos " như đang dệt mộng! Thật " bái phục ".

Thời gian học trong quân trường càng lâu, càng lắm gian nan, càng thêm gian khổ. Cũng chừng đó môn học nhưng sao lắm cuộc thi, lắm bài, lắm vở, lắm các môn phụ, nhớ lại mà phát sợ! Khi đă ra rồi có người không dám nh́n lại ngôi trường cũ yêu quí của ḿnh !

 

V - Thi Măn Khóa Và Chọn Thủ  Khoa:

Trước khi một khóa SVSQ sắp đến giai đoạn măn khóạ, Chỉ Huy Trưởng (CHT) Trung Tâm thông báo cho BTL/HQ/Khối Quân Huấn tối thiểu trước 1 tháng để chỉ định hội đồng Giám Khảọ. Hội Đồng ngoài thành phần cơ hữu của Trung Tâm như CHT, (c̣n có ) các Trưởng Khối VHV, QSV và Giáo Sư các môn chính. Thành phần chủ động cuộc thi do Tư Lệnh Hải Quân chỉ định gồm một vị Chánh Chủ Khảo và các vị Giám Khảo từ Saig̣n ra để chấm thi các môn chính Vận Chuyển, Hàng Hải, Cơ Khí, Điện Khí, Truyền Tin, Khí Tượng.

 Bài thi do các Giáo Sư đương nhiệm của trường đề nghị mỗi môn 3 đề tài. Tất cả các đề thi giao nạp cho Khối Văn Hoá Vụ. Khối Văn Hoá Vụ có nhiệm vụ đánh máy và bỏ vào b́ niêm phong. Trước giờ thi môn nào, vị Chánh Chủ Khảo chọn một trong 3 phong b́ đó và trao cho các vị Giám Khảo khui phát cho Sinh Viên. Cuộc thi gồm cả lư thuyết tại pḥng, vấn đáp và thực hành.

Điểm thi măn khóa được tính chung là 100 hệ số.

·        Ngành Chỉ Huy: Vận Chuyển Lư Thuyết hệ số 25, Hàng Hải Lư Thuyết hệ số 25.

·        Ngành Cơ Khí: Có phương thức tính riêng cho ngành Kỹ thuật cũng có 100 hệ số.

·        Các môn phụ và các điểm thi trong giai đoạn cũng như thựctập tính trung b́nh có 30 hệ số.

·        Điểm CHT sẽ cho sau cùng có 20 hệ số.

·        Chọn Thủ Khoa: Theo truyền thống thủ khoa là một Sinh Viên cao điểm nhất của ngành Chỉ Huy. Sau khi có kết quả điểm thi măn khóa các môn xong, ban Giám Khảo trao cho khối Văn Hóa Vụ để đúc kết và tŕnh lên Hội Đồng tuyển  chọn các Sinh Viên cao điểm nhất. Hội Đồng gồm có CHT, vị Chánh Chủ Khảo, Trưởng Khối Quân Sự Vụ và Trưởng Khối Văn Hóa Vụ. Chỉ  Huy Trưởng dựa vào hồ sơ quân kỷ, chấp hành nội qui, vóc dáng, tác phong, quân phục cũng như cách xưng hô khi tŕnh diện. Sau đó theo  thức Liên Đoàn Sinh Viên cho những người cao điểm nhất tŕnh diện CHT bằng quân phục đại lễ. Điểm của CHT sẽ quyết định là người Sinh Viên nào Thủ  Khoạ

VI – Các Khóa Sĩ Quan Hải Quân

Từ  Khóa 1 (K01)  đến Khóa 18 (K18)

Khóa  1 đến Khóa 6 SQHQ/VN do Hải  Quân Pháp trực tiếp Chỉ Huy và huấn luyện tại Việt Nam .

 

H́nh trích từ tài liệu [3]     

 

Ø  Khóa 1:

Tổng số có 9 Sinh Viên gồm 6 người thuộc ngành Chỉ Huy như sau: Chung Tấn Cang, Trần Văn Chơn, Lê Quang-Mỹ, Trần Văn Phấn, Hồ Tấn Quyền, Lâm Ngươn Tánh và 3 Sinh-Viên ngành Cơ Khí như sau: Đoàn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Lịch, Lương Thanh Tùng. Tất cả Sinh Viên thuộc Khóa 1 được thi tuyển chọn từ Hàng Hải Thương Thuyền, ngoại trừ Lê Quang Mỹ là một Thiếu Úy Bộ Binh.

(Phụ chú : Theo tài liệu [10] : Sinh viên Trần Văn Chơn tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Hàng Hải  với  ba  văn bằng gồm các ngành : Ban Chỉ huy (Section pont), Cơ khí (Section machine) và Vô tuyến (Section radio) ).

Khóa 1 đầu năm 1952 gia nhập vào Hải  Quân Pháp, được thực tập Hải Nghiệp và phục vụ trên các chiến hạm. Tất cả được đưa xuống Hàng Không Mẫu Hạm Arromancges tạm-trú và huấn luyện, rồi học chuyên nghiệp trên các chiến hạm khác.

TTHL/HQ/NT được xây cất xong vào tháng 07 năm 1952. Ngày 01 tháng 10 năm 1952 cử-hành măn khóa Sĩ Quan Hải Quân đầu tiên đó là Khóa 1 SQ/HQVN với cấp bậc Thiếu Úy, riêng Sinh Viên Lê Quang Mỹ được gắn cấp bậc Trung Úy. Sinh Viên Thủ Khoa là Trần Văn Chơn, cấp bậc sau cùng là cựu Đề Đốc. Ngày 30 tháng 04 năm 1975 ở lại, đi tù cải tạo và bị chuyển ra Bắc.

Chuẩn Úy Trần Văn Chơn năm 1952 -H́nh trích từ tài liệu [3]  

 

Chuẩn Úy Trần Văn Chơn sau lên tới cấp Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Sau khi măn khóa, đa số Sĩ Quan khóa 1 được bổ nhiệm phục vụ tại các DINA ( Division Navale D'Assaut ) của Pháp ở các lưu vực sông Cửu Long và sông Hồng Hà cuối năm 1952.

Tháng 04 năm 1953  ,DINA 1 tại Cần Thơ ( tiền thân của Hải Đoàn Xung Phong 21 );Về sau Pháp di chuyển Hải Đoàn Xung Phong 21 về Mỹ Thọ tại Cần Thơ th́ sau này Việt Nam Cộng Ḥa thành lập Giang Đoàn 25.

Tháng 6 năm 1953 là DINA 3 ( tiền thân của Hải  Đoàn Xung Phong 23, sau này đổi thành Giang Đoàn 23 ) đồn trú tại Vĩnh Long.

Ngoài Bắc th́ có DINA 2 ( tiền thân của Hải Đoàn Xung Phong 22 ) hoạt động vùng Châu Thổ sông Hồng Hà. Sau Hiệp Định Genève 1954, DINA 2 trên đường rút về th́ phụ giúp đồng bào di cư vào Nam.

Trong lịch sử Hải Quân VNCH, tất cả các vị Sĩ Quan thuộc Khóa 1 đă nắm giữ các chức vụ Chỉ Huy như sau:

- HQ Thiếu  Tá Lê Quang Mỹ, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam đầu tiên từ ngày 20 tháng 08 năm 1955 đến năm 1957. Sau chiến dịch Rừng Sát dẹp tan Lực-Lượng B́nh Xuyên được vinh thăng Trung Tá đầu năm 1956.

- HQ Trung Tá Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân từ năm 1957 đến đầu tháng 08 năm 1959.

- HQ Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân kể từ ngày 06 tháng 08 năm 1959 cho đến cuối tháng 10 năm 1963 th́ bị  sát  hại chỉ v́ ông không đồng thuận với nhóm tướng tá cầm đầu cuộc đảo chính  Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ngày 01 tháng 11 năm 1963.

- HQ Đại Tá Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân kể từ đầu tháng 11 năm 1963 đến gần cuối tháng 04 năm 1965.

- HQ Đại Tá Trần Văn Phấn, Tư Lệnh Hải Quân kể từ ngày 26 tháng 04 năm 1965 đến cuối tháng 09 năm 1966.

- Trong giaI đoạn từ cuối tháng 09 đến hết tháng10 năm 1966 chức vụ Tư Lệnh Hải Quân tạm thời do Trung Tướng Cao Văn Viên nắm giữ.

- HQ Đại Tá Trần Văn Chơn, tái đảm nhiệm Tư Lệnh Hải Quân từ ngày 01 tháng 11 năm 1966 cho đến cuối năm 1974, lúc bấy giờ đă được vinh thăng Đề Đốc.

- Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư Lệnh Hải Quân thay thế Đề Đốc Trần Văn Chơn cho đến cuối tháng 03 năm 1975.

- Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, vị Tư Lệnh Hải Quân sau cùng từ cuối tháng 03 năm 1975 đến 30 tháng 04 năm 1975.

Ba vị Sĩ Quan ngành Cơ Khí có cấp bậc và chức vụ cuối cùng như sau:

·        HQ Đại Tá CK  (Cơ Khí) Đoàn Ngọc Bích, Tổng Thanh Tra BTL/HQ.

·        HQ Đại Tá CK Nguyễn Văn Lịch, Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng.

·        HQ Đại Tá CK Lương Thanh Tùng, Tham  Mưu Phó Tiếp Vận BTL/HQ.

Danh-Sách Khoá 1:

1) Đoàn Ngọc Bích ( CK-Cơ Khí )

2) Chung Tấn Cang

3) Trần Văn Chơn ( Thủ Khoa )

4) Nguyễn Văn Lịch ( CK )

5) Lê Quang Mỹ ( Thiếu Uư CB Bộ Binh?)

6) Trần Văn Phấn

7) Hồ Tấn Quyền

8) Lâm Ngươn Tánh

9) Lương Thanh Tùng ( CK )

                                               

Ø  Khóa 2:

Tổng số có 16 Sinh Viên gồm 12 ngành Chỉ Huy và 4 ngành Cơ Khí, hầu hết được thi tuyển chọn từ Hàng Hải Thương Thuyền.

Nhập trường vào ngày 01 tháng 11 năm 1952, thời gian thụ huấn 6 tháng. Chú  trọng huấn luyện về Căn Bản Quân Sự, Vũ Khí, Tác Xạ, Hải Pháo và ôn tập Hải Nghiệp.

 Măn khóa vào tháng 05 năm 1953 với cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ  Khoa là Đinh Mạnh Hùng.

Khóa 2 có hai vị được vinh thăng Phó ĐềĐốc đó là: Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phụ-Tá Tư-Lệnh Hải Quân Hành Quân Lưu Động Sông tại BTL/HQ, Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú là vị Tư Lệnh cuối cùng của Lực Lượng Đặc Nhiệm Tuần Thám 212 tại Mỹ Thọ

Danh Sách Khoá 2 : ( Danh sách c̣n bổ túc )

1) Khương Hữu Bá

2) Đặng Cần Chánh ( CK-Cơ Khí )

3) Vơ Văn Chơn ( CK )

4) Đỗ Quư Hợp

5) Đinh Mạnh Hùng ( Thủ Khoa )

6) Nguyễn Văn Kinh ( CK )

7) Ngô-Khắc-Luân

8) Trương Ngọc Lực *

9) Nghiêm Văn Phú

10) Phùng Nhật Tân

11) Nguyễn Văn Thu

12) Nguyễn Hữu Tiễn ( CK )

13) Nguyễn Văn Trụ                                               

 

* Ghi Chú: Trương Ngọc Lực có liên hệ đến biến cố ám sát  hại Hồ Tấn Quyền.

 óm lược sự việc như sau: Sáng ngày 01 tháng 11 năm 1963, HQ Thiếu Tá Trương Ngọc Lực đến tư dinh TL/HQ lúc bấy giờ là HQ Đại Tá Hồ Tấn Quyền mời lên Thủ Đức dự tiệc tùng ǵ đó v́ hôm nay đúng là ngày sinh  nhật thứ 36 của Đại Tá Quyền. Trong khi Đại Tá Quyền đang đánh quần vợt với vài Sĩ Quan trong BTL/HQ tại sân trong khu vực Hải Quân. Sau đó Đại Tá Quyền đồng ư theo Thiếu Tá Lực. Khoảng chừng 4 giờ đồng hồ sau khi ra đi th́ chẳng hiểu số phận của vị Tư Lệnh Hải Quân lúc đó ra saọ Thiếu Tá Lực trở lại cùng một toán mặc quân phục Bộ Binh và tự xưng là Lực Lượng Cách Mạng vào trại BạchĐằng chiếm BTL/HQ. Thiếu Tá Lực c̣n ra lệnh cho các đơn vị HQ bằng côngđiện hoả tốc kư tên với danh xưng là Tư Lệnh HQ. Khi đó có vài phi cơ loại chiến đấu xuất hiện trên bầu trời Saig̣n và vùng Hải Quân đă bị các chiếnhạm đậu ngay trước bến Bạch Đằng bắn theo dữdội. Tại cầu A, Hộ Tống Hạm HQ 06 đậu tại vị trí 1 đang nhiệm sở tác chiến. Hạm-Trưởng lúc bấy giờ là HQ Đại Úy Đỗ Kiễm vừa nh́n thấy Thiếu Tá Lực đang từ trên BTL chạy ra và tiến về hướng phiá cầu A. Vừa bước tới chân cầu HạmTrưởng yêu cầu rút lui. Khi đó Thiếu Tá Lực tỏ ra rất giận dữ vừa đi lui vừa chỉ tay về phiá HQ 06. Ngày hôm sau có tin  Thiếu Tá Lực được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thăng lên Trung Tá. Cuối cùng toàn thể anh em HQ được tin Đại Tá Hồ Tấn Quyền bị ám sát trong cuộc đảo  chánh TổngThống Ngô Đ́nh Diệm. Lực Lượng Hải Quân dưới thời Đại Tá Quyền có tiếng là luôn luôn trung thành với TổngThống Ngô Đ́nh Diệm v́ đă có thành tích trong các cuộc chính biến trước đó rồi. Hải Quân đă giúp cho Tổng Thống Diệm ổn định được t́nh thế.

Cuộc Cách Mạng 01 tháng 11 năm 1963 do Tướng Dương Văn Minh làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân, trong khi đó Tướng Trần Thiện Khiêm là Tham Mưu Trưởng Liên Quân đă lượng định được sự khó khăn nếu như Lực lượng Hải Quân không chịu tham giạ

Sau khi cuộc cách mạng 01 tháng 11 năm 1963 thành công mà về sau Việt Nam Cộng Ḥa gọi đó là ngày Quốc Khánh. Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũng vinh thăng Trung Tá Chung Tấn  Cang lên Đại Tá nhằm mục đích sẽ đưa Đại Tá Chung Tấn Cang lên nắm chức TL/HQ thay thế Đại Tá Hồ Tấn Quyền đă chết. Tuy nhiên khi nghe tin Đại Tá Chung Tấn Cang lên làm Tư Lệnh HQ th́ có một sự chống đối trong số Sĩ Quan cao cấp thuộc các Đại Đơn Vị của Hải Quân. HQ Đại Tá Chung Tấn Cang đảm nhiệm chức vụ TL/HQ lần thứ nhất kể từ đầu tháng 11 năm 1963 cho đến cuối tháng 04 năm 1965. Cũng cần nói thêm về số phận của các vị Sĩ Quan chống đối đă bị ngưng chức ngay sau đó ( gồm 3 vị thuộc khoá 2 HQ/NT và một vị khóa 1 Brest ). Sau khi HQ Đại Tá Trần  Văn Phấn lên làm Tư Lệnh HQ, thay thế HQ Đại Tá Chung Tấn Cang th́ các Sĩ Quan trên mới lần lượt được phục hồi, Hải-Quân mới chấm dứt thời kỳ chia rẽ và lục đục nội bộ.

(Phụ chú : Theo tài liệu [12] : Vào lúc 9 giờ 45 sáng ngày 1 tháng 11 đúng vào ngày sinh nhật của ông Hồ Tấn Quyền,  ông bị sát hại dă man trên xa lộ Biên Ḥa hướng đi lên Thủ Đức, chỉ v́ ông không đồng thuận với nhóm tướng tá cầm đầu cuộc đảo chính.

Cùng đi trên xe với ông có hai sĩ quan Hải quân dưới quyền là Thiếu tá Trương Học Lực, Chỉ huy trưởng Vùng 3 Sông ng̣i và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang, Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung phong kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang Vận. Hai sĩ quan này được lệnh của các tướng cầm đầu cuộc đảo chính loại bỏ ông ra khỏi chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải Quân nên đă lừa ông ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su. V́ nếu ông c̣n là Tư Lệnh, ông sẽ chỉ huy Hải Quân ứng cứu Tổng thống Diệm, với ḷng trung thành của ông cộng với Lực lượng Hải Quân lúc bấy giờ, có thể cuộc đảo chính sẽ đi đến chỗ thất bại. Ông bị sát hại khi mới 36 tuổi).

 

Ø  Khóa 3:

Tổng số có 23 Sinh Viên gồm 18 ngành Chỉ Huy và 5 ngành Cơ Khí, hầu hết được thi tuyển chọn từ Hàng Hải Thương Thuyền.

Nhập trường tháng 07 năm 1953, thời gian thụ huấn 6 tháng. Chú trọng huấn luyện về Căn Bản Quân Sự, Vũ Khí, Tác Xạ, Hải Pháo và ôn tập Hải Nghiệp.

 Măn khóa vào tháng 01 năm 1954 với cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Nguyễn Văn Thông, cấp bậc sau cùng Đại Tá, vị Tư Lệnh cuối cùng của Lực Lượng Đặc Nhiệm Trung Đơng  ( ? ) 214 tại Đồng Tâm. Thủ- hoa ngành Cơ Khí là Trần Phước Dũ,cấp bậc sau cùng là Đại Tá.

Khóa 3 có bốn vị được vinh thăng Phó Đề Đốc đó là: Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng BTL/HQ; Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí là vị Tư Lệnh đầu tiên và cuối cùng của Lực Lượng Đặc Nhiệm Duyên Pḥng 213 tại Cam Ranh,đầu năm 1975 đảm nhiệm Phụ Tá Tư Lệnh Hải Quân Hành Quân Lưu Động Biển tại BTL/HQ; Phó Đề Đốc Vũ Đ́nh Đào là vị Tư Lệnh cuối cùng của Vùng 3 Duyên Hải kiêm Liên Đoàn Đặc Nhiệm 213.3 tại VũngTầu; Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu là vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của TTHL/HQ Nha Trang.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khóa sinh năm 1953 -H́nh trích từ tài liệu [3] 

  

 

 

Khóa sinh năm 1953-H́nh trích từ tài liệu [3]    

 

Ø  Khóa 4:

Tổng số có 15 Sinh Viên gồm 12 ngành Chỉ Huy và 3 ngành Cơ Khí, hầu hết được thi tuyển chọn từ Hàng Hải Thương Thuyền.

 Nhập trường tháng 02 năm 1954, thời gian thụ huấn 10 tháng. Chú trọng huấn luyện về Căn Bản Quân Sự, Vũ Khí, Tác Xạ, Hải Pháo và ôn tập Hải Nghiệp.

 Măn khóa vào tháng 12 năm 1954 với cấp bậc Thiếu Uư.

Sinh Viên Thủ Khoa là Nguyễn Văn Ánh, ông đă từng đảm nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng BTL/HQ từ năm 1965 – 1968,cấp bậc và chức vụ sau cùng là HQ Đại Tá biệt phái Phủ Thủ Tướng.

 Thủ Khoa Cơ Khí là Sinh Viên Lê Kim Sa, cấp bực cuối cùng là Đại Tá.

 HQ Đại Tá Nguyễn Bá Trang là vị Tư Lệnh cuối cùng của Lực  Lượng Đặc  Nhiệm Thủy Bộ 211 tại B́nh Thủy. Sau 30 tháng 04 năm 1975, ông ở lại và bị tù cải tạo, tháng 05 năm 1976 được chuyển trại từ K 2 Suối Máu Biên Hoà ra Yên Bái bằng phi cơ C 130.

 Khóa 4 có một vị được vinh thăng Phó Đề Đốc đó là: Phó Đề Đốc Hồ  Văn Kỳ Thoại, vị Tư Lệnh cuối cùng của Vùng 1 Duyên-Hải kiêm Liên Đoàn Đặc Nhiệm 213.1 tại Đà Nẳng.

 

Ø  Khóa 5:

Tổng số có 23 Sinh Viên ngành Chỉ Huy, gồm đa số là xuất thân từ Hàng Hải Thương Thuyền và một số được chọn qua cuộc thi tuyển ngoài dân sự.

 Nhập trường ngày 27 tháng 07 năm 1954, thời gian thụ huấn 10 tháng. Chú  trọng huấn luyện về Căn Bản Quân Sự, Vũ Khí, Tác Xạ, Hải Pháo Thực Hành, Hàng Hải Cận Duyên, ViễnDuyên, Vận Chuyển và ôn tập Hải Nghiệp.

 Măn khóa tháng 05 năm 1955 với cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Nguyễn Viết Tân, cấp bậc và chức vụ cuối cùng là HQ Đại Tá, Chỉ Huy Trưởng Sở Pḥng Vệ Duyên Hải. Sau 30 tháng 04 năm 1975 ở lại tŕnh diện đi tù cải tạọ. Tháng 05 năm 1976 được chuyển trại từ Suối Máu Biên Ḥa ra Yên-Bái Bắc Việt bằng phi cơ C130. Nhập trại tù Liên Trại 2 Hoàng Liên Sơn. Cuối năm 1978 được chuyển về trại tù Hà Sơn B́nh ( Hà Tây ), năm 1983 chuyển trại một lần nữa về Hà Nam Ninh. Tại đây một thời gian sau ông bị bệnh nặng, năm 1988 ông được ra tù về Saig̣n, tuy nhiên căn bệnh phù thủng, kiệt sức tiếp tục tàn phá hành hạ, cuối cùng ông đă vĩnh viễn ra đi năm 1989.

HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc trực tiếp chỉ  huy trận Hải Chiến Hoàng Sa đầu năm 1974, dưới quyền có các chiến ạm HQ 10, HQ 4, HQ 5 và HQ 16.

HQ Đại Tá Nguyễn Văn  May là vị Tư Lệnh cuối cùng của Vùng 5 Duyên Hải kiêm Liên Đoàn Đặc Nhiệm 213.5 tại Năm Căn; Sau 30 tháng 04 năm 1975 ông ở lại và bị tù cải tạọ Tháng 05 năm 1976 được chuyển trại từ K 2 Suối  Máu Biên Hoà ra Yên Bái bằng phi cơ C 130. Khóa 5 có một vị được vinh thăng Phó Đề  Đốc đó là: Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, vị Tư Lệnh cuối cùng của Vùng 2 Duyên Hải kiêm Liên Đoàn Đặc Nhiệm 213.2 tại Cam Ranh.

 

Ø  Khóa 6:

Tổng số có 21 Sinh Viên gồm 16 ngành Chỉ Huy và 5 ngành Cơ Khí, đa số là xuất thân từ Hàng Hải Thương Thuyền và một số được chọn qua cuộc thi tuyển ngoài dân sự.

Nhập trường ngày 21 tháng 04 năm 1955, thời gian thụ huấn 11 tháng. Chú trọng huấn luyện về Căn Bản Quân Sự, Vũ Khí, Tác Xạ, Hải Pháo thực hành, Hàng Hải Cận Duyên, Viễn Duyên, Vận Chuyển và ôn tập Hải Nghiệp.

 Măn khóa ngày 08 tháng 03 năm 1956 với cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Bùi Huy  Phong, cấp bậc và chức vụ sau cùng là HQ Trung Tá phục vụ tại TTHL/HQ Saig̣n. Sau ngày 30 tháng 04 năm1975 tŕnh diện đi tù cải tạo và bị bệnh chết tại trại K2 Suối Máu Biên Hoà đầu năm 1976

Sinh Viên Thủ Khoa ngành Cơ Khí là Nguyễn Văn Tần, bị đau bệnh chết lúc c̣n mang cấp bậc Đại Uư.

 

v  Các khóa do Hải Quân Pháp trực tiếp huấn luyện tại Brest-Pháp :

Trường Hải Quân Pháp nằm trên một ngọn đồi thuộc thành phố Brest. Mặt tiền nh́n ra biển Đạị Tây Dương. Trường luôn luôn có 2 khóa, một khóa đàn anh và một khóa đàn em. Mỗi khóa có chừng 100 Sinh Viên thụ huấn, trong số đó hầu hết là người Pháp. Thời gian thụ  huấn từ 20 tháng đến 2 năm. Các môn học chính trong chương tŕnh gồm có:

Toán học Đại Cương, Lượng Giác Không Gian, Vận Chuyển thực hành và lư thuyết, Thiên Văn, Khí Tượng, Hàng Hải Cận Duyện Viễn Duyên, Kiến Trúc Chiến Hạm, Tầu Ngầm, Hải Pháo, Điện Lư Thuyết và Kỷ Nghệ, các loại Động Cơ nỗ và Diesel, các loại máy điện tử dùng để quan sát không gian, máy Sonar, Sondeur ( Fathometer ), Radar, máy bay, thực tập phi hành, Căn Bản Quân Sự và Vũ Khí. Hàng tháng đều có chuyến đi thực tập ngắn hạn trên biển.

Giai đoạn 1 của khóa học là một năm, trước khi qua giai đoạn 2 là thời gian đi nghỉ hè. Trước khi được nghỉ hè là phải một chuyến viễn du qua các quốc gia lân cận rồi trở về Brest. Dịp nghĩ hè cũng là lúc khóa đàn anh măn khóa, nhà trường lại tiếp nhận thêm khóa mới. Sau kỳ nghĩ hè vào học giai đoạn 2 là trở thành Sinh Viên đàn anh, cũng có những tṛ chơi huấn nhục cho đàn em theo truyền thống của trường Sĩ Quan Hải Quân. Măn khóa các tân Sĩ Quan với cấp bậc Thiếu Uư trên vai, phải một chuyến hải hành viễndu kéo dài nhiều tháng, sau chuyến đi cuối cùng này là hồi hương.

 

ü  Khóa 1 Brest:

Được chọn qua một cuộc thi, các ứng viên trúng tuyển Khóa 1: Ngành Chỉ Huy: Nguyễn-Văn Duyên, Nguyễn Tân, Đặng Cao Thăng, Vương Hữu Thiều, Nguyễn Vân, Nguyễn Đức Vân.

·        Ngành Cơ Khí: Nguyễn Gia Định.

·        Ngành Bác Sĩ: Nguyễn Văn Đăng, Đặng Tất Khiêm, Dương Hồng Mô, Phạm

Minh Nghĩa, Trần Ngươn Phiêu, Phạm Vận.

·        Ngành Hành Chánh Tài Chánh: Đổ Đăng Công, Phạm Trung Giám, Đặng Văn Tất.

 

Xin ghi thêm ,theo tài liệu [4] : Ngoài việc huấn luyện sinh viên Việt Nam trở thành Sĩ Quan Hải Quân, Pháp cũng có những khóa hành chánh tài chánh ở Toulon. Sinh viên học một năm và một năm thực tập tại các Dépôt của Pháp.

·        Khóa 1: Ông Đỗ Đăng Công và ông Trần Văn Tất.

·        Khóa 2: Ông Phạm Trung Giám.

·        Khóa hành chánh tài chánh tại Cherbourg, năm 1956: Ông Trần Văn Biểu.

 

(Phụ chú :

Theo tài liệu [13] : Bác Sĩ Trần Ngươn Phiêu sau là Y Sĩ Đại Tá, Y Sĩ  Trưởng Hải  Quân,  Quān Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Tổng Trưởng bộ Xă Hội,Đệ Nhị Cộng Ḥa, Chủ Ttịch Hội đồng Quản trị Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Trên Facebook, tài liệu [14] , Thanh Ly Vo viết : BS Phiêu nhà ở Thủ Thiêm, tôi đă từng được ông chữa trị khi c̣n bé ở Thủ Thiêm; Nguyễn Hưng viết :  Bác sĩ rất tốt. Ai nghèo ông không lấy tiền. Mà c̣n cho thuốc về uống. Nhớ hoài buổi chiều ông ở bên Bộ Tư Lệnh Hải Quân qua đ̣ Thủ Thiêm đến pḥng khám.Ông mặc đồ Sĩ  Quan Hải Quân rất oai vệ).

Ngành Chỉ Huy và Cơ Khí khai giảng vào tháng 10 năm 1952 tại Brest, tất cả rời khỏi Việt Mam bằng phi cơ đến phitrường Orly vào tháng 09 năm 1952.

Măn khóa vào tháng 06 năm 1954. Trở về nước vào tháng 04 năm 1955, tính ra phải mất 2 năm 6 tháng mới trở lại quê hương. Sau khi măn khóa các tân Sĩ Quan c̣n đi hả -hành một chuyến dài ṿng quanh thế giới mất 8 tháng trên Tuần Dương Hạm. Khóa 1 Brest có một vị được vinhthăng Phó Đề Đốc đó là: Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, vị Tư Lệnh cuối cùng của Hải Quân Vùng 4 Sông Ng̣i tại Cần Thợ

Danh Sách Khoá 1 Brest:

1.     Nguyễn Văn Duyên

2.     Nguyễn Tân

3.     Đặng Cao Thăng

4.     Vương Hữu Thiều

5.     Nguyễn Vân

6.     Nguyễn Đức Vân

7.     Nguyễn Gia Định ( CK )

                                                 

ü  Khóa 2 Brest:

Được chọn qua một cuộc thi, các ứng viên trúng tuyển Khóa 2:

·        Ngành Chỉ-Huy: Vũ Xuân-An, Dư Trí Hùng, Nguyễn Kim Lượng, Hồ  Ngọc Ngà, Phương Xuân Nhàn, Trịnh Xuân Phong, Nguyễn Ngọc Quỳnh, NguyễnTân ( từ K1 học lại, khi ra trường xin ở lại Pháp ), Đinh Gia Tường.

·        Ngành Cơ Khí: Ú Văn Đức, Bùi Văn Lễ, Bùi Tiến Rũng.

Khóa 2 Brest nhập trường cuối tháng 09 năm 1953. Trong thời gian đi thực tập th́ Sinh Viên Dư TríHùng và Đinh Gia Tường đi trên Tuần Dương Hạm Jeanne D'Arc , các Sinh Viên khác thực tập trên Hạm Đội ĐịaTrung Hải.

 Khóa 2 Brest về nước đầu năm 1956, hai Sĩ Quan Phương Xuân Nhàn và Đinh Gia Tường sau khi phục vụ được 1 năm th́ vượt tuyến ra Bắc theo cộng sản năm 1957.

Cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975, cấp bậc cao nhất của các vị thuộc khóa 2 Brest là Đại Tá.

Danh Sách Khoá 2 Brest:

1) Vũ Xuân An

2) Ú Văn Đức ( CK )

3) Dư Trí Hùng

4) Bùi Văn Lễ ( CK )

5) Nguyễn Kim Lượng

6) Hồ Ngọc Ngà

7) Phương Xuân Nhàn

8) Trịnh Xuân Phong

9) Nguyễn Ngọc Quỳnh

10) Bùi Tiến Rũng ( CK )

11) Nguyễn Tân ( K1 học lại )

12) Đinh Gi Tường

 

ü  Khóa 3 Brest:

Được chọn qua một cuộc thi, các ứng viên trúng tuyển Khóa 3:

·        Ngành Chỉ-Huy: Phạm  Cừ, Nguyễn Quang  Dật, Nguyễn Văn Khánh, Đỗ Kiểm, Vũ Nhân, Lê Phụng, Phạm Văn Sanh, Bùi Hữu Thư, Vũ Tư Trực, Trịnh Quang Xuân.

·        Ngành Cơ-Khí: Đặng Đ́nh Hiệp, Nguyễn Ngọc Oánh.

Khóa 3 Brest nhập trường cuối tháng 09 năm 1954, sau khi măn giai đoạn 1 th́ Sinh Viên Phạm  Cừ và Vũ Hân hồi hương, Sinh Viên Nguyễn  Văn Khánh bỏ dở việc thụ huấn và hồI hương v́ sức khỏe. Riêng Sinh Viên Vũ Tư Trực cũng hồi hương sau năm thứ 1 và chuyển ngành Bộ Binh, bị chết v́ tại nạn tại trường Thủ Đức.

Khóa 3 Brest măn khóa hồi hương toàn bộ cuối năm 1956.

Cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975, cấp bậc cao nhất của các vị thuộc Khóa 3 Brest là Đại Tá. Trong số các vị Đại Tá đảm nhiệm các chức vụ cao như: HQ Đại Tá Đỗ Kiểm, Tham  Mưu Phó Hành Quân BTL/HQ. HQ Đại Tá Trịnh Quang Xuân là vị Tư Lệnh cuối cùng của Hải Quân Vùng 3 Sông Ng̣i tại Long B́nh.

Danh Sách Khoá 3 Brest:

1) Phạm Cừ

2) Nguyễn Quang Dật

3) Đặng Đ́nh Hiệp ( CK )

4) Nguyễn Văn Khánh

5) Đỗ Kiểm

6) Vũ Nhân

7) Nguyễn Ngọc Oánh ( CK )

8) Lê Phụng

9) Phạm Văn Sanh

10) Bùi Hữu Thư

11) Vũ Tư Trực

12) Trịnh Quang Xuân

 

ü  Khóa 4 Brest:

Được chọn qua một cuộc thi, các ứng viên trúng tuyển Khóa 4:

·        Ngành Chỉ Huy: Lê Triệu Đẩu, Nguyễn Địch Hùng, Nguyễn Kim Lượng ( từ K 2 bị bệnh trở lại ), Vơ Duy Ninh.

·        Ngành Cơ Khí: Nguyễn Tiến Ích, Trần Văn Sơn.

Khóa 4 Brest nhập trường cuối tháng 09 năm 1955, măn khóa cuối tháng 06 năm 1957.

Danh Sách Khoá 4 Brest:

1) Lê Triệu Đẩu

2) Nguyễn Địch Hùng

3) Nguyễn Tiến Ích ( CK )

4) Nguyễn Kim Lượng ( K2 học lại )

5) Vơ Duy Ninh

6) Trần Văn Sơn ( CK )

 

Từ Khóa 1 đến Khóa 6 tại Nha Trang cũng như 4 khóa xuất  thân từ trường SQHQ Pháp tại Brest th́ không có đặt tên riêng cho từng khóạ

o   Tên Các Cḥm Sao:

Khi chuyển giao cho Hải  Quân Việt Nam, ngoài số thứ tự ra c̣n có tên riêng của khóạ Mỗi tên tượng trưng cho một cḥm saọ.

Trong Hải Quân, với biển cả mênh mông, hải hành xuyên đại dương là nghề của chàng. Thời đại văn minh tiến bộ như hiện nay dù có vệ tinh theo dơi, nhưng căn bản của việc định vị trí trên biển bằng các tinh tú vẫn phải học, vẫn phải biết đối với các chiến sĩ áo trắng.Đó cũng là một niềm vui mà cũng là một nghệ thuật vừa áp dụng toán học cũng như kinh nghiệm trong ngành hàng hải.

Trong vũ trụ, ngoài Thái Dương Hệ, chúng ta quan sát thấy có những cḥm sao kết hợp với nhau thành những h́nh dạng gần như không thay đổi, xuất hiện trên bầu trời tùy theo ngày giờ và vị trí của người nh́n. Đó cũng là những mục tiêu của chúng ta dùng để xác định vị trí con tầu. Theo toán học không gian, trái đất tạm xem như là trung tâm điểm của Vũ Trụ h́nh cầu. Mặt Trời di chuyển giáp ṿng trên Hoàng Đạo ( Ecliptic ) trong thời gian là 365 ngày 1/4 ( một năm ), đi qua 12 cḥm sao nằm dọc theo ṿng cung lớn. Các cḥm sao này tạo thành 12 con giáp ( Zodiac ) của khoa chiêm tinh học Tây Phương như sau:

1.     Bảo B́nh ( Verseau hay Aquarius: từ 21 tháng 01 đến 19 tháng 02 )

2.     Song Ngư ( Poissons hay Pisces: từ 20 tháng 02 đến 20 tháng 03 )

3.     Dương Cưu ( Bélier hay Aries: từ 21 tháng 03 đến 20 tháng 04 )

4.     Kim Ngưu ( Taureau hay Taurus: từ 21 tháng 04 đến 20 tháng 05 )

5.     Song Nam ( Gémeaux hay Gemini: từ 21 tháng 05 đến 21 tháng 06 )

6.     Bắc Giải ( Cancer: từ 22 tháng 06 đến 22 tháng 07 )

7.     Hải Sư ( Lion hay Leo: từ 23 tháng 07 đến 23 tháng 08 )

8.     Xử Nữ ( Vierge hay Vergo: từ 24 tháng 08 đến 22 tháng 09 )

9.     Thiên Xứng ( Balance hay Libra: từ 23 tháng 09 đến 23 tháng 10 )

10.  Hổ Cáp ( Scorpion hay Scorpius: từ 24 tháng 10 đến 22 tháng 11 )

11.  Nhân Mă ( Sagittaire hay Sagittarius: từ 23 tháng 11 đến 21 tháng 12 )

12.  Nam Dương ( Capricorne hay Capricornus:Từ 22 tháng 12 đến 20 tháng 01)

Như trên các cḥm sao được xếp thứ tự ngày tháng theo khoa Tử Vi Tây  Phương.

Đầu tiên là Bảo B́nh và cuối cùng là Nam Dương. Tuy nhiên trong Hàng Hải Thiên Văn, Hoàng Đạo và Xích Đạo hợp với nhau một góc nghiêng là 23 độ 27 phút. Hai ṿng tṛn đó cắt nhau tại 2 điểm " Gamma " và " Gammá ", ta gọi là Xuân Phân và Thu Phân. Ṿng khởi điểm được tính lúc mặt trời đi từ " Gamma " và trở về lại là một năm.

Ngày 21 tháng 03 Dương Lịch hằng năm là lúc mặt trời đi qua điểm xuất phát, cũng là vùng có cḥm sao Dương Cưu nên được coi như số 1 và mặt trời mỗi tháng chiếm một cung, khi đi giáp ṿng th́ đến cḥm sao Song Ngư là số 12. Căn cứ vào số thứ tự các cḥm sao ở trên để đặt tên cho khóạ .

Khóa 7 SQHQ/NT, lúc này vị Tư  Lệnh Hải Quân Việt Nam đầu tiên là HQ Thiếu Tá Lê Quang Mỹ. Chỉ  Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân đầu tiên là HQ Đại Uư Chung Tấn Cang.Giám Đốc trường SVSQ là HQ Đại Uư Nguyễn Đức Vân. Tuy nhiên dù Pháp đă chuyển giao cho HQVN nhưng Giáo Sư và Huấn  Luyện Viên vẫn là người Pháp. Ngoại trừ Căn Bản Quân Sự và Vũ Khí Nhẹ là do Huấn Luyện Viên Việt  Nam phụ trách. Đến tháng 5 năm 1957 tất cả Sĩ Quan và Huấn  Luyện Viên Pháp cuối cùng rút khỏi quân trường. Khóa 7 được đặt tên Đệ Nhất Thiên Xứng đó là cḥm sao số 7. Các khóa kế tiếp cứ thế mà tính theo ṿng thứ tự 12 con giáp như trên. Khóa 8 là Đệ Nhất Hổ Cáp, khóa 9 là Đệ Nhất Nhân Mă và tiếp tục cho đến Đệ Nhất Song Ngự ,tiếp theo là Đệ Nhị, Đệ Tam. v.v..

 

Ø  Khóa 7: Đệ Nhất Thiên Xứng

Tổng số có 46 Sinh Viên gồm 29 ngành Chỉ Huy và 17 ngành Cơ Khí.

Nhập trường tháng 01 năm 1956 thời gian thụ huấn 20 tháng. Măn khóa tháng 07 năm 1957 với cấp bậc Thiếu Uư.

Sinh-Viên Thủ Khoa là Nguyễn Văn Thiện, cấp bậc và chức vụ cuối cùng là HQ Đại Tá , Tư Lệnh V4DH kiêm ( LĐĐ N 213.4 ), kiêm Đặc  Khu  Trưởng Đặc Khu Phú Quốc. Trong những ngày của tháng 04 năm 1975 tại đảo Phú Quốc tràn ngập gần 60 ngàn người tị nạn được các tầu chở đến từ Miền Trung. Trước cảnh hỗn loạn cướp bóc hăm hại trong thành phần tị nạn rất phức tạp đang xảy rạ, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVN Cộng Ḥa chỉ-định Đại Tá Thiện vào chức vụ Tổng Trấn Phú Quốc trong thời chiến. Đại Tá Thiện được phép kết án Tử H́nh mà không chờ án lệnh của ṭạ.  Từ khi nhận được lệnh của trên giao, Đại Tá Thiện đă thận trọng và trừng trị những tên tội phạm có tang chứng trong bọn người lợi dụng t́nh thế rối ren quấy phá đoàn người di tản, để đem lại an ninh trật tự cho đảo Phú Quốc. Thủ-Khoa ngành Cơ-Khí là Đoàn Văn Tiếng, cấp bậc cuối cùng là Trung Tá.

 

Ø  Khóa 8: Đệ Nhất Hổ Cáp

Tổng số có 50 Sinh Viên gồm 40 ngành Chỉ Huy và 10 ngành Cơ Khí.

 Nhập trường ngày 06 tháng 01 năm 1958 thời gian thụ huấn 2 năm. Măn khóa ngày 01 tháng 04 năm 1960 với cấp bậc Thiếu Uư trừ bị. Khóa 8 là khóa đầu tiên do Giáo Sư và Huấn Luyện Viên người Việt Nam hoàn toàn đảm trách.

Sinh Viên Thủ khoa là Trịnh Tiến Hùng, cấp bậc và chức vụ cuối cùng là Trumg Tá Trưởng Pḥng Điều Huấn BTL/HQ. Sinh Viên Thủ Khoa Cơ Khí là Nguyễn Văn Niệm.

Người mang cấp bậc cao nhất của Khóa 8 là HQ Đại Tá Lê Hữu Dơng, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Đặc Nhiệm 99. Hậu cứ của LL ĐN/99 tại CCHQ Nhà Bè. Đây được coi như là lực lượng tổng trừbị của Hải Quân kể từ khi Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang là Tư  Lệnh vào cuối tháng 03 năm 1975. HQ Trung Tá Trần Đ́nh Trụ cấp bậc và chức vụ cuối cùng là HQ Trung Tá Tư Lệnh Phó V5/DH tại Năm Căn. Đêm 29 tháng 04 năm 1975 đă theo đoàn tầu HQVN rời bến Bạch Đằng ra khơi tập trung tại vùng biển Côn Sơn. Sáng sớm ngày 01 tháng 05 năm 1975 đoàn tầu được lệnh khởi hành trực chỉ đi Phi Luật Tân. Sau 7 ngày đêm trên biển đoàn tầu bắt đầu vào hải phận Phi Luật Tân. Một buổi lể hạ Quốc-Kỳ VNCH trước khi vào hả -cảng Subic đă diễn ra trên các chiến hạm trong cảnh xúc động ngậm ngùi, có nhiều người không cầm được nước mắt đă bậc khóc. Sau đó tất cả mọi người được chuyển sang những thương thuyền lớn của Hoa Kỳ đă đậu sẳn ở đây. Đoàn thương  thuyền khởi hành đi Guam. Sáng ngày 13 tháng 05 năm 1975 đến nơi nhập vào trại ty. nạn tại Guam.Trại này có khả năng chứa hàng trăm ngàn người  giải quyết vấn  đề cho những người có thân nhân c̣n kẹt lại tại quê nhà mà muốn trở về. Sau thời gian đấu tranh bằng nhiều h́nh thức như tuyệt thực bất bạo động cũng như bạo động. Thiếu Tướng Herbert xin phép Washington quyết định chấp thuận cấp tầu Việt Nam Thương Tín 1 có trọng tải trên 10.000 tấn dài 140 mét do HQ Trung Tá Trần Đ́nh Trụ làm Thuyền Trưởng cùng với Thủy Thủ Đoàn hoàn toàn do các anh em Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Đoàn Viên HQVN/CH đảm trách để đưa 1.652 người từ Guam trở về Việt Nam. Trung Tá Trụ chỉ định anh Nguyễn Văn Phước làm Thuyền Phó, anh Trần  Cao Khải làm Cơ Khí Trưởng, anh Vương Thế Tuấn làm Trưởng  Ban Hải Hành với sự phụ tá có các HSQ/Giám Lộ như anh Nguyễn Văn Ṭng và Trần Văn Nở làm Navigator phụ trách hàng hải thiên văn, anh Hoàng Công Minh làm Trưởng Ban Vận Chuyển, anh Phạm Ngọc Lộ phụ trách Tiếp Liệu và anh Nguyễn Văn  Đàng phụ trách y tế. Đúng 08 giờ sáng ngày 15 tháng 10 năm 1975 mọi người muốn trở về được lần lượt đưa xuống tầu. Đúng 12 giờ 45 ngày 16 tháng 10 năm 1975 tầu Việt  Nam Thương Tín 1 rời đảo Guam và khởi hành về Việt Nam. Chuyến hải hành tuy có lúc gặp thời tiết xấu, có một trường hợp chết người đó là bà Nguyễn Thị Nại quá già yếu bị chết v́ kiệt sức suốt mấy ngày nay không ăn uống được. Thi thể của bà được thủy tán ngay sau đó. Đây cũng có người suy đoán sự trả nợ của con tầu này khi nó ra khơi, đang di chuyển trên sông Sàig̣n ngày 30 tháng 04 năm 1975 lúc ngang qua khu Rừng Sát bị việt cộng phục kích từ bờ gây thương vong cho nhà văn Chu Tử. Tuy nhiên lần này tầu đă được Thủy Thủ Đoàn lèo lái từ Guam về đến Vũng Tầu sau 9 ngày lên -đênh trên biển. Đúng 08 giờ sáng ngày 25 tháng 10 năm 1975 tầu thả neo tại Vũng Tầu. Sau đó việt cộng ra lệnh tầu tiếp tục trực chỉ đi Nha Trang và đă thả neo tại vịnh Cầu Đá lúc 10 giờ sáng ngày 27 an  toàn, bỏ tầu lại cho việ cộng để rồi lần lượt Thủy Thủ Đoàn bị phân loại và đi tù. Riêng Trung Tá Trụ đă bị việt cộng lưu đày qua các nhà tù từ Nam ra Bắc rồi trở vào Nam. Cho đến ngày 13 tháng 02 năm 1988 được ra tù từ trại Hàm Tân.Ngày 13 tháng 12 năm 1991 được ra đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO cùng với vợ con.

Ø  Khóa 9: Đệ Nhất Nhân Mă

Tổng số có 38 Sinh Viên gồm 29 ngành Chỉ Huy và 09 ngành Cơ Khí.

 Nhập trường tháng 03 năm 1959 thời gian thụ huấn 2 năm. Măn khóa tháng 05 năm 1961 với cấp bậc Thiếu Uư.

Sinh Viên Thủ Khoa là Hà Ngọc Lương, cấp bậc và chức vụ cuối cùng là HQ Trung Tá,Trưởng Khối Văn Hóa Vụ Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang.

Ngày thành phố Nha Trang di tản, Trung Tá chạy vào chạy ra cố sức thuyết phục vợ. Trung Tá Lương chở vợ con từ cư xá Lê Văn Duyệt vào tạm trú tại pḥng làm việc của Văn Hóa Vụ Trưởng. Vào phút chót. vợ Trung Tá Lương thay đổi ư kiến và quyết định không chịu đi. Biết không thể nào sống được với cộng sản nên Trung Tá Lương đă hốt hoảng tự sát cùng vợ và 5 con. Xác của 7 người được một số Hạ Sĩ Quan ở lại trong đó có Trung Sĩ Tô Thừa đem đào huyệt chôn ngay tại băi cát bên trái công viên Trần Hưng Đạọ Mấy tháng sau thân  nhân của gia đ́nh bà Lương trở về và cải táng. Sự việc trên gây bàng hoàng và xúc động cho toàn quân chủng Hải Quân.

Thủ  Khoa ngành Cơ Khí của Khóa 9 là Mai Văn Hoa, cấp bậc sau cùng là Trung Tá. Người mang cấp bậc cao nhất của Khóa 9 là HQ Đại Tá Nguyễn Hữu Xuân Tư Lệnh Phó Vùng 3 Sông Ng̣i.

 

Ø  Khóa 10: Đệ Nhất Nam Dương

Tổng số có 55 Sinh Viên ngành Chỉ Huy.

Nhập trường tháng 07 năm 1960 thời gian huấn luyện 2 năm. Ra trường ngày 14 tháng 07 năm 1962 với cấp bậc Thiếu Uư.

Sinh Viên Thủ Khoa là Lê Bá Thông, cấp bậc sau cùng Trung Tá.

 Đầu năm 1974 HQ Trung Tá Lê Văn Thự Hạm Trưởng HQ 16 trực tiếp tham dự trận hải chiến Hoàng Sạ.

 

- Khóa 11: Đệ Nhất Bảo B́nh

Tổng số 82 Sinh-Viên ngành Chỉ Huy. Nhập trường 01.09.1961, thời gian thụ huấn 18 tháng. Ra trường ngày 14.04.1963 với cấp bậc Thiếu Uư.

Sinh Viên Thủ Khoa là Trần Quang Thiệu.

 Đầu năm 1974 HQ Trung Tá Vũ Hữu San Hạm Trưởng HQ 4 và HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh Hạm Trưởng HQ 05 trực tiếp tham dự trận hải chiến Hoàng Sạ.

 

Ø  Khóa 12: Đệ Nhất Song Ngư

Tổng số 103 Sinh Viên ngành Chỉ Huy. Nhập trường ngày 13 tháng 08 năm 1962, thời gia thụ huấn 18 tháng. Ra trường tháng 03 năm 1964 với cấp Thiếu Uư.

Sinh-Viên Thủ Khoa là Trần Trọng Ngà. Đầu năm 1974 HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà Hạm Trưởng HQ 10 hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa được truy thăng cố Trung Tá.

 

Ø  Khóa 13: Đệ Nhị Dương Cưu

Nhập trường ngày ngày 22 tháng 12 năm 1962. Các Sĩ Quan hiện dịch đó là: Thiếu Úy CB Hoàng Trọng Biểu, Thiếu Úy CB (?) Nguyễn Hồng  Diệm, Thiếu Úy  CB Nguyễn Duy Long, Thiếu Úy CB Phùng Gia Mùi, Thiếu Úy CB Nguyễn Như Phú, Thiếu Úy  CB Hoàng Đ́nh Thanh và Thiếu Úy CB Nguyễn Đức Thu. Khi Khóa 13 ra trường th́ 7 Sĩ Quan trên cũng đến ngày thăng cấp HQ Trung Úy hiện dịch và đầu năm 1965 th́ Nghị Định được ban hành.

 

Ø  Khoá 14: Đệ Nhị Kim Ngưu

 Sinh Viên Thủ Khoa là Trương Minh Hoàng. Sinh Viên Thủ Khoa Cơ Khí là Trịnh  Long Hải.

 

Ø  Khóa 15: Đệ Nhị Song Nam

Tổng số có 108 Sinh Viên gồm 88 ngành Chỉ Huy và 20 ngành Cơ-Khí. Thời gian thụ huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 11 năm 1964. Măn khóa vào tháng 07 năm 1966 với cấp bậc Thiếu Uư trừ bị.

 Sinh-Viên Thủ Khoa là Nguyễn Thành Lộc. Thủ khoa Cơ Khí là Trần Chí Hoạt.

Đêm 29 tháng 04 năm 1975 toàn bộ chiến hạm thuộc Hạm Đội Hải Quân được lệnh rút khỏi cảng Sàig̣n để ra biển. Ngày 30 tháng 04 năm 1975, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Lực VNCH buôn súng đầu hàng, trong khi các chiến  hạm khác c̣n đang công tác tại V4DH cũng như các thương thuyền Việt Nam đang ở Singapore được tự do vận chuyển hoặc đi theo đoàn hoặc trở về Saig̣n theo lời chiêu dụ của việt cộng kêu gọi trên đài phát thanh hoặc v́ hoàn cảnh gia đ́nh vợ con, thân nhân c̣n kẹt lại mà phải quay về trong trật tự theo sự sắp xếp của cấp Chỉ Huy hạm  đội trên biển. Riêng trường hợp của HQ Đại Úy Ngô Minh Dương Hạm Trưởng HQ 602 trong khi c̣n đang thi hành nhiệm vụ thuộc V4DH, qua hệ thống truyền tin liên lạc. Vài người dưới quyền đoán biết ư định của Hạm Trưởng đang chấp hành lệnh tập trung để trực chỉ đi Côn Sơn. Lợi dụng đêm tối bọn này muốn trở cờ để cướp tầu về lập công với việt cộng. Thừa lúc ban đêm Hạm Trưởng đang bận rộn trên đài chỉ huy, bọn chúng đă lấy búa pḥng tai bất ngờ chặt đầu Hạm Trưởng và xô xuống biển. Đồng thời ai đang đi phiên chứng kiến cảnh trên nếu phản đối th́ cũng bị bọn này ném xuống biển để phi tan. Sau đó HQ 602 đă trở về cặp bến Saig̣n cùng với một số chiến hạm và thương thuyền vào những ngày đầu tháng 05 năm 1975. Việt cộng đă phát động chiến dịch tiếp đón ngay tại bến Bạch Đằng để loan truyền chính sách khoan hồng của chính quyền mới. Sự hy sinh của HQ Đại Úy Ngô Minh Dương đáng được ghi vào lịch sử của HQVN CH mà từ lâu chưa ai t́m ra được thủ phạm trong cảnh hổn loạn của đất nước: Danh Dự Tổ Quốc Trách Nhiệm đè nặng trên vai các cấp Chỉ Huy.

 

Ø  Khóa 16: Đệ Nhị Bắc Giải

 Tổng số có 134 Sinh Viên gồm 104 ngành Chỉ Huy và 30 ngành Cơ Khí. Thời gian thụ huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 01 năm 1966. Măn khóa vào tháng 07 năm 1967 với cấp-bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Lư Ngoc Ẩn. Thủ-khoa Cơ Khí là Phạm Huy Hy.

Ø  Khóa 17: Đệ Nhị Hải Sư

Tổng số có 136 Sinh Viên gồm 103 ngành Chỉ Huy và 33 ngành Cơ Khí. Thời gian thụ huấn 18 tháng, nhập trường vào tháng 8 năm 1966. Trong thời gian đầu Sinh Viên Vũ Thế Tiệp bị bệnh tiểu đường chết. Măn khóa vào tháng 08 năm 1968 với cấp bậc Thiếu Uư. Khóa 17 năm thứ hai gặp lúc biến cố Tết Mậu Thân nên thời gian học bị kéo dài thành ra 2 năm. Sinh Viên Thủ Khoa là Trần Ngọc Điển. Thủ Khoa ngành Cơ Khí là Trần Vĩnh Tuấn.

Sinh viên Khóa 17 diễn hành ngày 1/11/1967 trên đại lộ Thống Nhất-Sài g̣n- H́nh trích từ tài [3]    

Văn bằng Tốt Nghiệp Sĩ Quan Hải Quân Khóa 17- H́nh trích từ tài [7] 

   

Lễ Măn Khóa 17-H́nh trích từ tài liệu [7]    

 

Thực tập Đệ 7 Hạm Đội :

Theo tài liệu [3] :  Đối với 60 hoặc 70 SVSQ đă được lựa chọn cẩn thận, trải nghiệm độc đáo và đầy thử thách sẽ diễn ra ngay sau khi tốt nghiệp.
Mùa thu năm 1966, một chuyến thực tập và hướng dẫn của Hạm đội 7 Hoa Kỳ đă được tổ chức cho các sĩ quan hải quân Việt Nam, và kế hoạch dự trù là sẽ tiếp tục chương tŕnh này hàng năm. Mục tiêu của chương tŕnh là giúp các sĩ quan mới vừa ra trường làm quen với các khái niệm và ứng dụng của tổ chức, quy tŕnh làm việc trên tàu, tiêu chuẩn hoạt động và khả năng lănh đạo.

Các SVSQ được hướng dẫn tại Học Viện Hải Quân trước khi lên tàu tŕnh diện bắt đầu chuyến thực tập của họ. Các chủ đề được đề cập trong năm nay bao gồm hệ thống tổ chức hoạt động và danh xưng các quân cụ trang bị trên tàu, thủ tục đi ca, hệ thống máy móc trên tàu, nghi thức trong pḥng ăn sĩ quan, hải quy và những bài học rút ra từ các nỗ lực trong quá khứ

 

Các tân Sĩ Quan Khóa 17 chuẩn bị đi Thực tập Đệ 7 Hạm Đội tháng 10 năm 1968 – H́nh trích từ tài liệu [3]    

Trong chuyến thực tập năm 1968, 22 tàu khu trục và 9 tàu LST đă tiếp đón các SQ khóa 17. Mỗi tàu được chỉ định tiếp nhận hai SQ Việt Nam giống như những lần thực tập của các khóa trước. Khoảng thời gian trung b́nh ở trên tàu là bảy tuần.

Chương tŕnh huấn luyện bao gồm càng nhiều thực tập tại chỗ càng tốt, và luân chuyển qua mỗi ban chuyên môn trên tàu, với mỗi sĩ quan Việt Nam thường được đi kèm theo bởi một Sĩ quan kém thâm niên trên tàu được Hạm trưởng chỉ định đi kèm.
Hạm trưởng của các tàu huấn luyện đánh giá từng sĩ quan thực tập giống như họ đánh giá các sĩ quan của tàu. Thêm vào đó, Hạm trưởng và sĩ quan HQVN cũng viết phúc tŕnh nhận xét về hiệu quả của chuyến thực tập.

Rơ ràng là Bộ Tư lệnh Hải Quân Việt Nam ủng hộ chương tŕnh này và chắc chắn muốn thấy nó tiếp tục. Nỗ lực này đang tiến triển, và công tác thực tập, ở cả hai bên, đă được cải thiện, nhưng vẫn luôn c̣n chỗ cho sự phát triển hơn nữa để đạt được kết quả mong muốn chung.

 

Ø  Khóa 18: Đệ Nhị Xử Nữ

Tổng số có 95 Sinh Viên gồm 75 ngành Chỉ Huy và 20 ngành Cơ Khí. Một người đào ngũ v́ quá hoảng sợ trong thời kỳ huấn nhục là Sinh Viên Huỳnh Kim Tỷ, sau được bổ sung thêm 1. Thời gian thụ huấn 18 tháng, nhập trường tháng 09 năm 1967. Măn khóa vào ngày 14 tháng 07 năm 1969 với cấp bậc Thiếu Uư. Khóa 18 năm đầu gặp lúc biến cố tết Mậu Thân nên thời gian học cũng bị kéo dài thành ra 22 tháng. Sinh Viên Thủ Khoa là Trần  Anh Tuấn. Thủ Khoa ngành Cơ Khí là Bùi Ngọc  Anh.

 

Chương tŕnh Lễ Măn Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân- H́nh trích từ tài liệu [7] 

   

Ø  Khóa 19: Đệ Nhị Thiên Xứng

Tổng số có 272 Sinh Viên gồm 192 ngành Chỉ Huy và 80 ngành Cơ Khí. Thời-gian thụ huấn 1 năm, Sinh Viên nhập trường từ tháng 10 năm 1968 cho đến ngày 19 tháng 02 năm 1969 mới chính thức khai giảng khóạ. Đây là khóa đầu tiên trong chương tŕnh ACTOV, đồng thời các khóa Trần Hưng Đạo OCS tại Hoa Kỳ cũng bắt đầu có kế  hoạch chuẩn bị. Khóa 19 măn khóa vào ngày 21 tháng 02 năm 1970 với cấp bậc Chuẩn Uư. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Lê Văn Từ. Thủ Khoa Cơ Khí là Đỗ Khắc Mạnh.

Ø  Khóa 20: Đệ Nhị Hổ  Cáp

 Tổng số có 270 Sinh Viên gồm 200 ngành Chỉ Huy và 70 ngành Cơ Khí. Một Sinh Viên đào ngũ là Phan Thiếu Dương, ba Sinh Viên xin chuyển ngành là: Nguyễn Hữu Hải học Sĩ Quan Cảnh Sát, Nguyễn Văn Huê học Sĩ Quan Thủ Đức và Ngô Trọng Các nguyên là Thiếu Úy CB không chịu chương tŕnh huấn nhục.

Thời gian thụ huấn 1 năm, nhập trường ngày 17 tháng 08 năm 1969. Măn khóa vào ngày 17 tháng 08 năm 1970 với cấp bậc Chuẩn Uư. Sau một năm thực tập OJT sẽ mang cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Lưu Đức Huyến. Thủ Khoa Cơ Khí là Lê Vĩnh Hiệp.

Ø  Khóa 21: Đệ Nhị Nhân Mă

Tổng số có 269 Sinh Viên gồm 135 ngành Chỉ Huy và 134 ngành Cơ Khí. Thời-gian thụ huấn 1 năm, nhập trường ngày 04 tháng 03 năm 1970. Măn khóa vào ngày 20 tháng 03 năm 1971 với cấp bậc Chuẩn Uư. Sau một năm thực-tập OJT sẽ mang cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Phạm Đức Lai. Thủ Khoa Cơ Khí là Lê Tất Chánh.

 

Thiệp chúc Tết Xuân Tân Hợi  (1971) của Trường Sĩ Quan Hải Quân- H́nh trích từ tài liệu  [15] 

 

Ø  Khóa 22: Đệ Nhị Nam Dương

Tổng số có 248 Sinh Viên gồm 124 ngành Chỉ Huy và 124 ngành Cơ Khí. Nhập trường tháng 09 năm 1970, thời gian thụ huấn 1 năm. Măn khóa ngày 11 tháng 09 năm 1971 với cấp bậc Chuẩn Uư. Sau một năm thực tập OJT sẽ mang cấp  bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Nguyễn Tấn Khải. Thủ Khoa ngành Cơ Khí là Nguyễn Thanh.

Ø  Khóa 23: Đệ Nhị Bảo B́nh

Tổng số có 282 Sinh Viên gồm 140 ngành Chỉ Huy và 140 ngành Cơ Khí, có 2 người bị chết trong thời gian đầu đó là Sinh Viên Lưu Tuấn  Anh và Nguyễn Ngọc Nghị. Nhập trường ngày 14 tháng 4 năm 1971, thời gian thụ huấn 1 năm. Đây là khóa cuối trong chương tŕnh ACTOV kể cả các khóa OCS Trần Hưng Đạo tại Hoa Kỳ cũng đến khoá 12 là chấm dứt. Măn khóa ngày 15 tháng 04 năm 1972 với cấp bậc ChuẩnUư. Sau một năm thực tập OJT sẽ mang cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Nguyễn Công Minh, Thủ Khoa ngành Cơ Khí là Nguyễn Thế Hùng.

Ø  Khóa 24: Đệ Nhị Song Ngư

  Tổng số có 279 Sinh Viên ngành Chỉ Huy. Nhập trường ngày 28 tháng 09 năm 1971, thời gian thụ huấn 2 năm. Măn khóa vào ngày 01 tháng 09 năm 1973 với cấp bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Trần Văn Thuận.

Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tư  (1972) của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang- H́nh trích từ tài liệu  [15] 

 

Ø  Khóa 25: Đệ Tam Dương Cưu

Tổng số có 186 Sinh Viên ngành Chỉ Huy. Nhập trường ngày 15 tháng 11 năm 1972, thời gian thụ huấn 2 năm. Măn khóa ngày 03 tháng 09 năm 1974 với cấp  bậc Thiếu Uư. Sinh Viên Thủ Khoa là Nguyễn Chí Thành.

 

Thiệp chúc Tết Xuân Quư Sữu (1973)  của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang- H́nh trích từ tài liệu  [15] 

 

Ø  Khóa 26: Đệ Tam Kim Ngưu

Tổng số có 182 Sinh Viên ngành Chỉ Huy. Nhập trường tháng 08 năm 1973, thời gian thụ huấn 2 năm. Tháng 10 năm 1974 thi măn giai đoạn 1 mang cấp bậc Sinh Viên Chuẩn Uư.

 Dự tính sẽ thi măn khóa vào tháng 08 năm 1975. Tuy nhiên v́ hoàn cảnh đất nước đă đến lúc sôiđộng. Việc thu nhận Sinh Viên khóa 27 bị đ́nh trệ, do đó khóa 26 vẫn chưa có thêm khóa đàn em theo như truyềnt hống từ trước.

Đầu tháng 03 năm 1975 HQ Trung Tá Nguyễn Văn Nhựt CHP được thuyên chuyển về BTL/HQ. HQ Trung Tá Nguyễn Nam Thanh ( Khóa 7 HQNT ) thay thế.

Cuối tháng 03 năm 1975 Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu nhận được lệnh chuẩn bị di tản toàn bộ Trung Tâm.

Ngày 02 tháng 04 Hải Vận Hạm Hậu Giang HQ 406 do HQ Trung Tá Nguyễn Quốc Trị  (Khóa 10 HQNT ) là Hạm Trưởng vào vịnh Nha Trang để đón.Trong cảnh xôn xao náo loạn từ mọi phía như dân chúng và giới quân nhân. Chiến hạm không thể nào giữ được an ninh để ủi băi trước công viên Trần Hưng Đạo mà phải đánh lạc hướng đám đông. HQ 406 vào vịnh Cầu Đá từ đó liên lạc máy cho TTHL. Khoảng chừng trên 400 Sinh Viên,Học Viên Chuyên Nghiệp cùng Đại Đội 2 của Trung Tâm chạy bộ xuống Cầu Đá. Tại đây người chen lấn đông đúc và dẫm bừa lên nhau, có người bị chết. Một số lên được tầu, một số phải đi quá giang ghe Duyên Đoàn để vào đến Cam Ranh mới lên được chiến hạm. Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu được di tản bằng phi cơ, cuối cùng th́ toàn bộ Trung Tâm về đóng quân tại CCHQ/Cát Lái. Hai tuần sau di chuyển về Sở Thú Sàig̣n trách nhiệm pḥng thủ thành phố cho đến ngày 30.04 năm 1975.

VII - Tổng Kết :

Khoá 1 : 9 Sinh Viên

Khoá 2 : 16 Sinh Viên

Khoá 3 : 23 Sinh Viên

Khoá 4 : 15 Sinh Viên

Khoá 5 : 23 Sinh Viên

Khoá 6 : 21 Sinh Viên

Khoá 7 : 46 Sinh Viên

Khoá 8 : 50 Sinh Viên

Khoá 9 : 38 Sinh Viên

Khoá 10: 55 Sinh Viên

Khoá 11: 82 Sinh Viên

Khoá 12: 103 Sinh Viên

Khoá 13: 87 Sinh Viên

Khoá 14: 100 Sinh Viên

Khoá 15: 108 Sinh Viên

Khoá 16: 134 Sinh Viên

Khoá 17: 136 Sinh Viên

Khoá 18: 95 Sinh Viên

Khoá 19: 272 Sinh Viên

Khoá 20: 261 Sinh Viên

Khoá 21: 269 Sinh Viên

Khoá 22: 248 Sinh Viên

Khoá 23: 282 Sinh Viên

Khoá 24: 279 Sinh Viên

Khoá 25: 186 Sinh Viên

Khoá 26: 182 Sinh Viên

 

Tổng Cộng : 3120 Sinh Viên

Từ ngày thành lập cho đến 30-04-1975 Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang đă đào tạo được trên 3000 Sĩ Quan chung cho ngành Chỉ Huy và Cơ Khí. Riêng về trường Sơ Đẳng chuyên nghiệp th́ đă đào tạo được 15.050 Hạ Sĩ Quan và Đoàn Viên.

 

Phần 2 : Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa

Sau đây là lược sử thành lập Quân chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa .

Theo tài liệu [16] :

Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa ( Tiếng Anh: Republic of Vietnam Navy, RVN) được thành lập ngày 6 tháng 3 năm 1952, là một thành phần vũ trang trong Quân đội Quốc gia của Quốc gia Việt Nam. gồm những tàu chiến nhỏ do quân đội Liên Hiệp Pháp trang bị trước khi rút lui khỏi Việt Nam.

Bắt đầu từ đây, các ngành liên hệ thuộc Hải quân cũng được thành lập.

Ngày 12 tháng 7 năm 1952, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được khánh thành để đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ chuyên nghiệp. Một cơ quan chỉ huy là Ban Hải quân, sau đổi thành Pḥng Hải Quân đặt trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.

Các khóa huấn luyện đầu tiên mở từ tháng 9 năm 1952 tới 1953. Thời gian này, v́ Hải Quân Việt Nam chưa có tàu nên các tân sĩ quan và thủy thủ Việt Nam khi ra trường phải tập sự trên các tàu của Pháp, Trong đó có một số sĩ quan thi tuyển giữa năm 1952 được cử đi du học ở Pháp.

Tháng 4 năm 1953, Hải Đoàn Xung Phong 25 được Pháp giao lại cho Hải Quân Việt Nam.

 Cuối năm 1953, có thêm 2 Đoàn Tiểu đĩnh. Riêng về Lực lượng Tuần Giang (Giang lực) cũng chính thức h́nh thành vào thời điểm này.

Cuối năm 1955, có thêm 3 Hải Đoàn mới: Hải đoàn 21 tại Mỹ Tho, Hải đoàn 23 tại Vĩnh Long và Hải đoàn 24 tại Sài G̣n. Một số cơ sở trên bờ ở Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên cùng với Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, Hải quân Công xưởng Sài G̣n và kho đạn Thành Tuy Hạ cũng được Pháp chính thức giao cho Hải Quân Việt Nam.

Lực lượng h́nh thành :

Trước khi triệt thoái khỏi Việt Nam theo Hiệp định Genève 1954, quân đội Pháp đă để lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam một số chiến hạm và giang đỉnh. Sau đó, cộng thêm với những giang đĩnh của các đoàn tuần giang bán chính quy sáp nhập vào, lực lượng thủy quân Quốc gia Việt Nam gồm có những đơn vị sau:
-3
Hộ tống hạm (Patrol Craft - PC);
-2
Hải vận hạm (Landing Ship Medium-LSM);
-1
Tàu thủy đạo (Batiment Hydrographe);
-3
Trục lôi hạm (Dragueur, Yard Mine Sweeper-YMS);
-2
Trợ chiến hạm (Landing Ship Support Large-LSSL);
-5
Giang pháo hạm (Landing Ship Infantery Large-LSIL);
-4
Giang vận hạm (Landing Craft Utility - LCU);
-2
Tuần duyên hạm (Garde Côtière - GC);
-70 Quân vận đĩnh (Landing Craft Mechanized-LCM). Trong số này có 2 Tiền Phong đĩnh (LCM Monitor), 4 Soái đĩnh (LCM de Commandement), 53 quân vận đĩnh bọc thép (LCM Blinde) và 11 Quân vận đĩnh loại nhẹ (LCM leger);

Các Tiền Phong đĩnh (LCM Monitor)  thao diễn trên sông Sàig̣n-H́nh trích từ tài liệu [17]


-95
Tiểu đĩnh gọi chung là Vơ-đét (Vedette), trong đó có 17 chiếc loại ứng chiến (Vedette d'Interception), 1 Vơ-đét canh pḥng (Vedette de Surveillance), 6 chiếc loại Tuần cảng Y (Yard). Ngoài ra là các Tiểu Giáp Đĩnh: 36 chiếc loại STCAN, 12 chiếc loại FOM dài 8 mét và 23 chiếc loại FOM dài 11 mét;
-100 Tiểu vận đĩnh LCVP (Landing Craft Vehicle Personnel), tức là loại tàu nhỏ cỡ như Vơ-đét chở được 6 người, trong đó có 81 loại b́nh thường và 19 loại nhẹ;
-15
Sà lan trong đó một Sà lan máy, 1 Sà lan chở nước và 13 Sà lan thường;
-3 tàu ḍng (Remorqueur) .

Ngoài ra, phần lớn các chiến hạm đă cũ và có một vài chiếc không c̣n dùng được.

 

Những chỉ huy đầu tiên :

Trong những năm đầu mới thành lập, các sĩ quan hải quân người Việt chỉ mới tốt nghiệp từ quân trường. V́ cấp bậc c̣n quá thấp, họ không đủ thâm niên để nắm giữ bất cứ một chức vụ quan trọng nào. Ngay cả chức vụ Trưởng Ban Hải Quân kiêm Phụ Tá Hải Quân Việt Nam cạnh Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia, đáng lẽ phải là sĩ quan Hải Quân Việt Nam, cũng do giới chức người Pháp nắm giữ. Tính đến năm 1955, nếu không kể đến Hạm đội Pháp tại Viễn Đông, Đại tá Récher là sĩ quan Hải Quân cao cấp nhất của Hải quân Pháp tại Việt Nam. V́ thế, ông đảm nhiệm cả hai chức vụ Phụ Tá Hải Quân cho Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia và quyền Chỉ Huy Trưởng Hải Quân Quốc Gia Việt Nam.

Cho đến cuối năm 1954, khi Hải Quân Pháp bắt đầu chuyển giao quyền chỉ huy các đơn vị thủy quân cho Việt Nam, quân số Hải quân Việt Nam vẫn c̣n rất ít. Về cấp sĩ quan, cấp cao nhất chỉ có một Đại Úy Lê Quang Mỹ, tất cả sĩ quan các khóa 1, 2, 3 là Trung Úy khóa 4 và 5 là Thiếu úy. Ngoài ra, c̣n thêm các sĩ quan Hải quân đầu tiên tốt nghiệp Trường Hải Quân Brest (École Navale de Brest) hồi hương khoảng cuối mùa hè 1955.

Do nhu cầu điều động thủy quân trong các cuộc hành quân, ngày 1 tháng 7 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm Thiếu tướng Trần Văn Đôn, Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia, kiêm nhiệm chức vụ Trưởng ban Hải quân thay thế Đại tá Récher. Tuy nhiên, việc chuyển quyền chỉ có tính cách chính trị v́ toàn bộ sĩ quan của Ban Hải quân dưới quyền tướng Đôn đều là các sĩ quan Hải quân Pháp. Cũng v́ lư do này mà Chiến dịch Hoàng Diệu đáng lẽ được tiến hành từ tháng 7 năm 1955, nhưng măi tới ngày 21 tháng 9 năm 1955 mới khởi sự được.

Khi đó chỉ mới có Hải đoàn Xung phong số 21 được đặt dưới sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia, do Thiếu Tá Lê Quang Mỹ làm Hải  Đoàn trưởng. Các Hải đoàn khác tuy đă do sĩ quan Việt Nam làm Chỉ huy trưởng, nhưng về hệ thống vẫn c̣n trực thuộc Bộ Chỉ huy Giang lực (COFFLUSIC) của Pháp. V́ vậy, trong thời gian diễn ra chiến dịch, các Hải đoàn Việt Nam tham chiến được đặt dưới quyền chỉ huy tạm thời của Thiếu Tá Lê Quang Mỹ.

Vào ngày 20 tháng 8 năm 1955, bằng một nghị định chính thức, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm Thiếu Tá Lê Quang Mỹ vào chức vụ Trưởng ban Hải quân, Phụ tá Hải quân cạnh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia, thay tướng Đôn để chỉ huy Hải quân và đoàn Bộ binh Hải quân (Thủy Quân Lục chiến). V́ lẽ này, ông Lê Quang Mỹ được xem là Chỉ huy trưởng đầu tiên của Hải quân Việt Nam Cộng ḥa.

 

Phát triển lực lượng :

Ngày 7 tháng 11 năm 1955, Pháp chuyển giao Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang lại cho Hải quân Việt Nam Cộng ḥa. Khi đó, Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang huấn luyện các khóa sĩ quan say đây :

-Khóa 6 Sĩ quan Hải quân với tổng số 21 sinh viên sĩ quan, gồm 16 thuộc ngành Chỉ huy và 5 ngành Cơ khí. Nhập trường ngày 21 tháng 4 năm 1955, thời gian thụ huấn 11 tháng. Măn khóa ngày 8 tháng 3 năm 1956.

-Khóa 7 Sĩ quan Hải quân bắt đầu tuyển mộ vào cuối năm 1955. Khóa này được khai giảng tại Nha Trang vào đầu năm 1956. Học tŕnh kể cả thực tập ngoài đơn vị, được nâng lên hai năm với đầy đủ các môn học văn hóa, kiến thức và chuyên nghiệp cho hai ngành chỉ huy và cơ khí.

Kể từ đó, mỗi năm Trung Tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang đào tạo khoảng 1.200 nhân sự các cấp.

Ngày 7 tháng 12, để bành trướng các hoạt động ở sông rạch, mỗi Hải đoàn được trang bị 6 LCM, 4 LCVP và 6 Ho-bo (Hors Bord) có vận tốc cao. Hải quân tiếp nhận hai Trợ chiến hạm (Landing Ship Support Large-LSSL): HQ.225 và HQ.226.

Về quân số, vào tháng 7 năm 1955, Hải quân Việt Nam Cộng ḥa có 3.858 người, kể cả 1.291 người thuộc đoàn Bộ binh Hải quân. Cũng trong năm này, Hải quân thành lập các lực lượng lớn và tất cả Bộ Chỉ huy đều đặt tại Sài g̣n.

.
-Hải lực gồm có:
-3 Hộ tống hạm loại PC (Patrol Craft hay Submarine Chaser): Chi Lăng HQ.01, Vạn Kiếp HQ.02 và Đống Đa HQ.03
-3 Trục lôi hạm loại YMS: Hàm Tử HQ.111, Chương Dương HQ.112, Bạch Đằng HQ.113
-2 Trợ chiến hạm loại LSSL: HQ.225 Nỏ Thần và HQ.226 Linh Kiếm
-4 Hải vận hạm loại LSM (Landing Ship Medium): Hát Giang HQ.400, Hàn Giang HQ.401, Lam Giang HQ.402 và Ninh Giang HQ.403
-10 Tuần duyên đĩnh loại WBP (Coast Guart Patrol Cutter)
-Giang lực, gồm có:
-5 Hải đoàn, mỗi Hải đoàn được trang bị tối thiểu 5 Quân vận đĩnh (Landing Craft Mechanized-LCM), 4 Tiểu vận đĩnh (Landing Craft Vehicle and Personnel-LCVP), 5 Ho-bo có vận tốc cao
-4 Giang pháo hạm loại LSIL (Landing Ship Infantry Large)
-5 Giang vận hạm loại LCU (Landing Craft Utility)
4 chiếc YTL (Yard Tug Light hay Harbor Craft)

Hậu cứ các Hải đoàn được đặt tại các địa điểm: Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên và Cát Lái.

-Các đơn vị trên bờ gồm có:
-Bốn Duyên khu tại Phú Quốc, Nha Trang, Vũng Tàu và Đà Nẵng
-Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang
-Hải quân Công xưởng
-Trung tâm Tiếp liệu
-Các Thủy xưởng tại Cần Thơ và Đà Nẵng

Kể từ ngày 21 tháng 12 năm 1955, Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng ḥa Lê Quang Mỹ công bố thành lập lực lượng Bộ binh Hải quân h́nh thành và bắt đầu hoạt động như là một đơn vị của Hải quân.

Bộ Tư lệnh Hải Quân được đặt ở Trại Bạch Đằng sau khi Pháp bàn giao căn cứ Caserne Francis Garnier trên bờ sông Sàig̣n .

Mặt tiền caserne Francis Garnier thời Pháp

 

Caserne Francis Garnier thời Pháp

 

Về Quân y, Y sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước đảm nhiệm chức vụ Y sĩ trưởng Hải quân. Bộ Chỉ huy Bộ binh Hải quân cùng đóng chung ở Trại Bạch Đằng. Y sĩ Thiếu tá Tước cũng phụ trách luôn phần quân y cho đơn vị này.

 

Theo tài liệu [18] : Khởi đi từ số không, sau 20 năm tiến triển, Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa (HQVNCH) đă thực sự trưởng thành.

 

 

Huy hiệu Quân chủng Hải quân -H́nh trích từ tài liệu [5] & [15] & [19] 

 

 

 

Quân kỳ Hải quân Việt Nam Cộng Ḥa-H́nh trích từ tài liệu [15] & [20] 

 

 

Hiệu kỳ- H́nh trích từ tài liệu [16] 

 

 

Thánh kỳ- H́nh trích từ tài liệu [16] 

(Xem thêm chi tiết về  Thánh kỳ trong Phụ đề ở cuối bài) .

 

Thánh Tổ Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa : Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo

Tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại công trường Mê Linh ở giao điểm đường Hai Bà Trưng và bến Bạch Đằng-Sài g̣n-Trên chân tượng đài có bảng hiệu Hải Quân Việt Nam-  H́nh trích từ tài liệu [21]

 

Tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại công trường Mê Linh ngó ra sông Sàig̣n-Đường bên phải h́nh là bến Bạch Đằng dẫn vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân

(Xem thêm chi tiết về  việc dựng Tượng Thánh Tổ Hải Quân VNCH trong Phụ đề ở cuối bài) .

 

Tổ chức của  quân chủng Hải Quân, một cách tổng quát, được mô tả như dưới đây:

Bộ Tư Lệnh Hải Quân

Bộ Tư Lệnh Hải Quân có nhiệm vụ điều hành, quản trị và phát triển quân chủng. Đứng đầu cơ quan đầu năo có TưLệnh Hải Quân Việt Nam Cọng Ḥa , phụ tá là Tư Lệnh Phó, rồi đến Tham Mưu Trưởng trách nhiệm tham mưu.

Bộ Tư Lệnh Hải  Quân được chia ra làm các khối tham mưu chính như sau:

– Khối Hành Quân;

– Khối Tiếp Vận;

– Khối Nhân Viên;

– Khối Chiến Tranh Chính Trị;

– Khối Quân Huấn;

– Khối Quân Y;

– Sở An Ninh Hải Quân ;

– Văn Pḥng Tổng Thanh Tra.

Có 5 Tham Mưu Phó các Khối Hành Quân, Tiếp Vận, Nhân Viên, Chiến Tranh Chính Trị và Quân Huấn. Có Trưởng khối Quân Y, Trưởng Sở An Ninh Hải Quân và Tổng ThanhTra. Cấp số Phó Đề Đốc.

Mỗi khối chia ra nhiều pḥng. Trưởng Pḥng có cấp số Đại Tá.

 

btl-hqvnch_result

 

Bộ Tư Lệnh Quân Chủng Hải Quân QLVNCH- H́nh trích từ tài liệu  [22] 

 

Theo tài liệu [4] : Bộ Tư Lệnh Quân Chủng Hải Quân QLVNCH  đặt tại Trại Bạch Đằng sau khi Pháp bàn giao căn cứ Caserne Francis Garnier ở bờ sông Sài g̣n vào năm 1952.

Theo tài liệu [23] : Ngoài Khối Quân Y ở Bộ Tư Lệnh (trụ sở ở trong Hải Quân Công Xưởng), Khối Quân Y Hải Quân c̣n có một bệnh xá được nâng lên thành Bệnh Viện Hải Quân trước ở ngay trong Bộ Tư Lệnh (Bến Bạch Đằng), sau dời về Trung Tâm Quản Trị Hành Chánh, số 9 đường Cường Để (sát ngay Bến Bạch Đằng). Bệnh Viện Hải Quân lúc đó  (khoàng năm 1970 )có chỉ huy trưởng là Y Sĩ Thiếu Tá Tạ Văn Luyện

Theo tài liệu [22] : Nhằm nâng cao tŕnh độ cho một số sĩ quan chỉ huy trong quân chủng, năm 1959 Hải quân VNCH bắt đầu gửi các sĩ quan trung cấp của quân chủng đi tu nghiệp lớp chỉ huy tham mưu tại trường Cao đẳng Hải chiến (United States Naval War Colloge) Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ. Liên tục từ 1959 đến 1974 mỗi năm gửi đi tu nghiệp một sĩ quan, những sĩ quan này phải có cấp bậc từ Hải quân Trung tá trở lên và đă tốt nghiệp ngành chỉ huy và cơ khí. Ngoài ra Hải quân VNCH cũng gửi một số sĩ quan của quân chủng tu nghiệp lớp chỉ huy tham mưu ở trường Đại học Chỉ huy và Tham Quân đội Hoa Kỳ (US Army Command and General Staff College) Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Những sĩ quan tốt nghiệp ở hai trường này về sau đều được giữ những vị trí chỉ huy và tham mưu cao cấp trong quân chủng .

Hơn nửa,theo tài liệu [9] : V́ Trường Sinh Ngữ Quân Đội không cung ứng kịp thời cho nhu cầu đào tạo ứng viên du học cho Hải Quân, với sự tài trợ của Hải Quân Mỹ, Quân chủng Hải Quân Việt Nam đă thành lập riêng biệt Trường Anh Ngữ Hải Quân tại đường Trần Tấn Phát.

(Phụ chú : Đường Trần Tấn Phát  là một con đường ngắn và nhỏ,nằm sau lưng trường Trung Học Nguyễn Công Trứ,  chạy song song với đường Hai Bà Trưng,nối liền đường Hiền Vương và đường Phan Thanh Giản).

Tại  đây các giáo sư Mỹ đă đào tạo mỗi 6 tháng một khóa Anh Ngữ du học. Các khóa sinh Hải Quân thường chỉ trong ṿng 6 tháng là thi đủ điểm để du học. Lúc đó hàng năm Quân Huấn Hải Quân gửi đi Hoa Kỳ khoảng 3,000 người. Ngoài một số sĩ quan học các khóa chỉ huy tham mưu cao cấp tại New Port Rhode Island, các khóa Line Officer, Engineering, Management, Operation Analysis tại Monterey, California, c̣n có một người học tại trường Hải Quân Hoa Kỳ Anapolis là anh Trần Văn Trực, con Đô Đốc Trần Văn Chơn.

 

Danh sách sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng ḥa tu nghiệp ở trường Cao Đẳng Hải chiến Hoa Kỳ (trích từ tài liệu [24] ) :                                   

1 Trần Văn Chơn (1920-2019)-HQ Nha Trang K1-Hải quân Trung tá-1959-1960-Đề đốc Thiếu tướng -Tư lệnh Hải quân-Giải ngũ năm 1974.

2 Chung Tấn Cang (1926-2007)-HQ Nha Trang K1-1960-1961-Phó Đô đốc Trung tướng Tư lệnh Hải quân-Tư lệnh cuối cùng Quân chủng Hải quân VNCH.

3 Đặng Cao Thăng (1929-2005)-Hải quân Brest K1-1961-1962-Phó Đề đốc Chuẩn tướng -Tư lệnh Vùng 4 Sông ng̣i Kiêm Tư lệnh Hạm đội 21 Đặc nhiệm.

4 Nguyễn Đức Vân -Hải quân Brest K1-1962-1963-Hải quân Đại tá-Chỉ huy trưởng Trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp Hải quân.

5 Trần Văn Phấn-HQ Nha Trang K1-1963-1964-Hải quân Đại tá-Tư lệnh Hải quân
(1965-1966) -Trước đó, khi là Hải quân Thiếu tá được đi tu nghiệp tại trường Đại học Chỉ huy Tham mưu Quân đội Hoa Kỳ niên khóa 1959-1960.Giải ngũ năm 1966.

6 Lâm Ngươn Tánh (1928-2018)-HQ Nha Trang K1-1964-1965-Đề đốc Thiếu tướng
Phụ tá Quốc vụ khanh-Nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân (từ tháng 11/1974 đến tháng 3/1975).

7 Đinh Mạnh Hùng (1932-2018)-HQ Nha Trang K2-1965-1966-Phó Đề đốc Chuẩn tướng-Tư lệnh Lực lượng Hành quân Lưu động sông.

8 Khương Hữu Bá(1929-2015)-HQ Nha Trang K2-1966-196-Hải quân Đại táTư lệnh Hải khu 4-Hải khu 4 c̣n gọi là Hải quân Vùng IV Duyên hải.

9 Vũ Đ́nh Đào (1931)-HQ Nha Trang K3-1967-1968-Phó Đề đốc Chuẩn tướng Tư lệnh Hải khu 3.          

10  Nguyễn Hữu Chí (1931-1988)-HQ Nha Trang K3-1968-1969-Phó Đề đốc Chuẩn tướng Phụ tá Tư lệnh Hải quân-Đặc trách Hành quân Lưu động biển kiêm Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 213 Duyên pḥng.

11  Nguyễn Xuân Sơn (1935)- HQ Nha Trang K4 -1969-1970-Hải quân Đại tá Tư lệnh Hạm đội Hải quân Vùng I Duyên hải (Hải khu 1).

12  Trịnh Xuân Phong-Hải quân Brest K2-1970-1971-Hải quân Đại tá-Tham mưu phó Quân huấn Bộ Tư lệnh Hải quân.                         

13  Ngô Khắc Luân(1931)-HQ Nha Trang K2-           Hải quân Đại tá-1971-1972-Hải quân Đại tá Trưởng khối Tiếp vận Bộ Tư lệnh Hải quân.

14  Bùi Cửu Viên (1932)-HQ Nha Trang K4-1972-197-Hải quân Đại tá Tư lệnh Hạm đội HQ 801.                    

15  Phan Văn Cổn (1933)-HQ Nha Trang K3-           1973-1974-Hải quân Đại tá Tham mưu phó Nhân viên Bộ Tư lệnh Hải quân.          

16  Dư Trí Hùng (1932)-Hải quân Brest K2-1974-1975-Hải quân Đại tá Tư lệnh Hạm đội 12 HQ.                      

Đại học Chỉ Huy và Tham Mưu Quân Đội Hoa Kỳ :                                                                      

17  Đỗ Quư Hợp (1928-2015)-HQ Nha Trang K2-Hải quân Trung tá-1966 – 1-Hải quân Đại tá Chỉ huy trưởng Giang Lực Kiêm Chỉ huy trưởng Đặc khu Rừng Sác .

18  Nghiêm Văn Phú (1928-2008)-HQ Nha Trang K2- 1967 – 1-Phó Đề đốc Chuẩn tướng Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm Tuần thám 212.     

 

Sơ đồ Tổ Chức HQVNCH

Chức vụ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam :

Chức vụ Tư Lệnh  Hải Quân Việt Nam lần lượt  được đảm nhiệm bởi các Sĩ Quan sau đây:

1.     HQ Thiếu Tá Lê Quang Mỹ- Vơ bị Huế K2-Hải quân Nha Trang K1- Chỉ huy trưởng Hải quân đầu tiên từ 20-8-1955 đến 11-1957. Sử dụng chức danh Phụ tá Hải quân cho Tổng Tham mưu trưởng. Thăng cấp Trung tá (1955), Đại tá (1956). Giải ngũ 1963.

2.     HQ Trung Tá Trần Văn Chơn- Hải quân Nha Trang K1- từ 11-1957 đến 6-8-1959 (thăng cấp HQ Trung Tá khi được bổ nhiệm).

3.     HQ Trung Tá Hồ Tấn Quyền- Hải quân Nha Trang K1- từ 6-8-1959 đến 1-11-1963 (thăng cấp HQ Trung Tá (1959)  khi được bổ nhiệm, thăng cấp HQ Đại Tá (1962) trong chức vụ). Bị sát  hại ngày 1 tháng 11 năm 1963.

 

59-53r_result

Đại Tá Hồ Tấn Quyền -H́nh trích từ tài  liệu [22]

 

Theo tài liệu [25] :  Ông Hồ Tấn Quyền là một sĩ quan hải quân đầy nhiệt t́nh và giàu khả năng khi phục vụ mọi đơn vị từ GiangĐoàn đến Hải Lực.

Lúc nắm chức vụ cao nhất, HQ/Đại tá Quyền đă phát huy vượt bực viễn kiến sắc bén của ḿnh để xây dựng sự vững mạnh cho Quân chủng như thành lập Lực Lượng Hải Thuyền, tổ chức Chiến dịch Sóng T́nh-Thương… và trở thành một hiện tượng đặc thù trong các vị Tư lệnh Hải quân.

 

4.     HQ Đại Tá Chung Tấn Cang- Hải quân Nha Trang K1- từ 11-1963 đến 4-1965 (thăng cấp HQ Đại Tá khi được bổ nhiệm; thăng cấp Phó Đề Đốc và Đề Đốc trong chức vụ).

5.     HQ Đại Tá Trần Văn Phấn- Hải quân Nha Trang K1 - từ 26-4-1965 đến tháng 9-1966.

6.     Trung Tướng Cao Văn Viên- Vơ bị Địa phương Cap Saint Jacques-Trung Tướng 1966- Đương nhiệm Tổng Tham mưu trưởng, kiêm nhiệm Tư lệnh Hải quân trong một thời gian ngắn từ 9-1966 đến tháng 10-1966.

7.     HQ Đại Tá Trần Văn Chơn- từ 1-11-1966 đến tháng 1-11-1974 (thăng cấp HQ Đại Tá khi được bổ nhiệm; thăng cấp Phó Đề Đốc và Đề Đốc trong chức vụ). Tái nhiệm Tư lệnh lần thứ 2- Giải ngũ năm 1974.

8.     Đề Đốc Lâm Nguơn Tánh- Đề đốc-Thiếu tướng- từ tháng 1-11-1974 đến tháng 3-1975. Sau cùng giữ chức Phụ tá Quốc vụ khanh, đặc trách tiếp nhận đồng bào di cư từ miền Trung .

9.     Phó Đô đốc Chung Tấn Cang- Hải quân Nha Trang K1-Phó Đô đốc-Trung tướng : 1975-Tái nhiệm lần thứ 2, Tư lệnh sau cùng. Nhậm chức ngày 24 tháng 3, đào nhiệm ngày 29 tháng 4 năm 1975 .

 

Vài điều  khác biệt của Hải Quân VNCH (nhưng lư thú) ,trích từ tài liệu [20] :

Chỉ Huy Trưởng/Chỉ Huy Phó của một đơn vị được gọi là Chỉ Huy Trưởng/Chỉ Huy Phó chứ không gọi theo cấp bậc.

 Hạm Trưởng/Hạm Phó của một chiến hạm cũng được gọi là Hạm Trưởng/Hạm Phó chứ không gọi theo cấp bậc hay là Thuyền Trưởng/Thuyền Phó.

Sĩ quan cấp thấp gọi sĩ quan cao cấp là commandent.

Khi trực diện với vị sĩ quan uy quyền nhất của Hải Quân VNCH, đa số đều gọi vị sĩ quan này là Tư Lệnh chứ không gọi theo cấp bậc.

Khi đàm thoại với một vị Tướng Hải Quân VNCH, dù vị Tướng này là Phó Đề Đốc, người đối thoại cũng gọi vị Tướng này là Đô Đốc.

Trên chiến hạm, sĩ quan dùng cơm  tại pḥng dành riêng và được sắp ngồi theo thứ tự đă quy định. Nếu khách viếng thăm chiến hạm th́ khi dùng cơm,vị khách được ngồi ghế bên phải của Hạm Trưởng.

 Khi một người lính Hải Quân đi với một phụ nữ, dù phụ nữ nàygià/trẻ/xấu/đẹp/Mẹ/vợ/bạn/người t́nh/em gái, người Hải Quân cũng để phụ nữ này đi bên phải của người Hải Quân, để, nhỡ có rủi ro ǵ, người Hải Quân sẽ thuận tay che chở và bảo vệ phụ nữ đó.

 Rời đơn vị/rời chiến đỉnh hoặc chiến hạm, Hải Quân VNCH gọi là “đi bờ”.

 

Các Lực Lượng Chiến đấu

Lực Lượng Chiến đấu của Hải Quân Việt Nam điều hành bởi 7 Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng và 9 Bộ Tư Lệnh Lực Lượng khác nhau như sau:

– 5 Vùng Duyên Hải;

– 2 Vùng Sông Ng̣i;

– Hải Quân Biệt Khu Thủ Đô;

– Đặc Khu Rừng Sát;

– Liên Đoàn Tuần Giang;

– Hạm Đội;

– Lực Lượng Thủy Bộ;

– Lực Lượng Tuần Thám;

– Lực  Lượng Trung Ương

– Sở Pḥng Vệ Duyên Hải;

– Và Thủy Quân Lục Chiến, Lực Lượng Tổng Trừ Bị của QL/VNCH.

 

Năm Vùng Duyên Hải

Để phù hợp với tổ chức lănh thổ và chiến thuật, Hải Quân Việt Nam chia duyên hải thành 5 Vùng được gọi là: Vùng I Duyên Hải, Vùng II Duyên Hải Vùng III Duyên Hải, Vùng IV Duyên Hải và Vùng V Duyên Hải.

Vùng Duyên Hải có nhiệm vụ chính yếu là duy tŕ an ninh duyên hải, các hảiđảo; ngăn chận sự xâm nhập bất hợp pháp bằng đường thủy; điều động hành quân các đơn vị Hải Quân trực thuộc; tang phái và yểm trợ hành quân cho các Quân Khu liên hệ.

Đơn vị chính yếu của Vùng Duyên Hải là các Duyên Đoàn, các Hải Đội Duyên Pḥng, các Đài Radar Kiểm Báo và các Căn cứ Hải Quân đồn trú trong lănh thổ trách nhiệm.

Suốt dọc duyên hải Việt-Nam có 28 Duyên Đoàn và 16 đài Radar Kiểm Báo rải rác. Mỗi Duyên Đoàn có 12 chiến thuyền gắn động cơ và gồm các loại:

– Ghe Chủ Lực;

– Ghe Thiên Nga;

– Duyên Kích Đĩnh.

Mỗi Hải Đội Duyên Pḥng được trang bị với những loại chiến đĩnh gồm:

– Các Duyên Tốc Đĩnh- Patrol Craft, Fast (PCF);

– Các Tuần Duyên Đĩnh (WPB).

 

Hai Vùng Sông Ng̣i

Hải Quân Việt Nam có hai Vùng Sông Ng̣i:

– Vùng 3 Sông Ng̣i bao gồm các sông rạch thuộc lănh thổ QuânKhu III.

– Vùng 4 Sông Ng̣i bao gồm các sông rạch thuộc lănh thổ Quân Khu IV.

Hai Vùng Sông Ng̣i này có nhiệm vụ chính yếu là duy tŕ an ninh trên các sông rạch, ngăn  chận cộng sản sử dụng đường thủy để liên lạc và xâm nhập vùng trách nhiệm; yểm trợ hành quân cho các đơn vị bạn; phối hợp hành quân Liên Quân và yểm trợ kế hoạch b́nh  định phát triển địa phương. Ngoài các căn  cứ Hải Quân, đơn vị chính yếu của Vùng Sông Ng̣i là những Giang Đoàn Xung Phong được trang bị bởi các Giang Đĩnh cũ do Hải Quân Pháp để lại, gồm có các loại sau đây:

– Soái Đĩnh;

– Tiền Phong Đĩnh;

– Quân Vận Đĩnh;

– Tiểu Vận Đĩnh;

– Tiểu Gi

 

Hải Quân Biệt Khu Thủ Đô

Hải Quân Biệt Khu Thủ Đô là vùng sông ng̣i thuộc lănh thổ Biệt Khu Thủ Đô, được thành lập nhằm mục đích thống nhất việc điều hành các đơn vị Hải Quân tại Sàig̣n để góp phần bảo vệ Thủ Đô và cung cấp những dịch vụ cần thiết cho các đơn vị Hải Quân đồn trú tại Sàig̣n. Ngoài ra Bộ Tư Lệnh Hải Quân Biệt Khu Thủ Đô c̣n có nhiệm vụ bảo vệ an  ninh cho Quân Cảng và Thương Cảng Sàig̣n.

 

 

Thiệp chúc Tết Xuân Ât Mảo (1975) của Bộ Tư Lênh Hải Quân Biệt Khu Thủ Đô-H́nh trích từ tài liệu [15] 

 

Đặc Khu Rừng Sát

Kể từ năm 1962, Hải Quân Việt Nam được chỉ định trách nhiệm an ninh khu vực bao gồm hai con sông chiến lược quan trọng: sông Ḷng Tào và sông Soài Rạp. Hai con sông này là trục lộ huyết mạch nối liền Thủ Đô Sàig̣n với Biển Đông. Đặc Khu Rừng Sát là một rừng chồi dày đặc, thích hợp cho hoạt động của du  kích việt cộng; do đó việc đảm trách an ninh trên các sông rạch liên hệ rất khó khăn. Tuy nhiên Hải Quân Việt Nam đă giữ anninh cho hàng ngàn thương thuyền tiếp tế cho Sàig̣n. Điềunày chứng tỏ khả năng hữu hiệu của các Lực Lượng TuầnTiễu Hải Quân tại Đặc Khu Rừng Sát. Cựu Đại Tá Nelson, một Sĩ Quan HQHK từng làm việc tại Đặc khu này đă tiểu thuyết hoá những hoạt động giữ an ninh thủy lộ chiến lược này qua một cuốn sách của Ông.

Liên Đoàn Tuần Giang

Trước đây Liên Đoàn Tuần Giang thuộc Địa Phương Quân, sau đó được sáp nhập vào Hải Quân; gồm có 24 Đại đội Tuần Giang, 3 Đại đội sửa chữa và một Trung Tâm Huấn luyện tại Cát Lái. Các Đại đội này được thành lập để yểm trợ hành quân cho những Tiểu Khu liên hệ và bảo vệ an ninh trên sông rạch. Chiến đĩnh Tuần Giang gồm có các loại: Quân Vận Đĩnh LCM và Tiểu Vận Đĩnh LCVP.

Hạm Đội

Hạm Đội là đại đơn vị ṇng cốt của Hải Quân Việt Nam, quản trị hành chánh cho các chiến hạm có khả năng hoạt động ngoài biển.

Các chiến hạm Hạm Đội VNCH thường xuyên :

– tuần tiễu cận duyên bảo vệ lănh hải và vùng cận duyên;

– tuần tiễu vùng viễn duyên để phát giác và ngăn chặn kịp thời các hoạt động của địch

– hành quân đổ bộ, chuyên chở, tiếp tế, yểm trợ sửa chữa các tiểu đĩnh tại vùng hành quân;

– phối hợp hành quân và yểm trợ Hải Pháo cho các đơn vị bạn;

– bảo vệ tài nguyên, chống lại mọi hoạt động bất hợp pháp.

Lần đầu là vào năm 1956, khi hào khí của Hải Quân nhất là Hải Lực vừa mới dâng cao, khả năng của HQVNCH được một số chức quyền tin tưởng. Những Vị này nghĩ rằng: Nếu một khi Hải Quân được trang bị đầy đủ, huấn luyện kỹ lưỡng, Quân chủng này có thể thi hành các hoạt động tấn công tiêu diệt địch như theo các mục 5, 6, 7, và 8 như sau:

(5) Phong toả hải phận địch quân;

(6) Đổ bộ chiếm cứ lănh thổ địch;.

(7) Hành quân phá hủy các vị trí địch;

(8) Tiêu diệt Hải Quân của địch.

 

Lực Lượng Thủy Bộ:

Được thành lập từ tháng 6 năm 1969 để thay thế Lực-Lượng Đặc Nhiệm 117 của Hải  Quân Hoa Kỳ. Lực Lượng Thủy Bộ hoạt động tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm các chiến đĩnh sau đây:

– Soái Đĩnh Thủy Bộ;

– Tiền Phong Đĩnh;

– Quân Vận Đĩnh Tác Chiến;

– Trợ Chiến Đĩnh.

 

 

Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà tung bay trên các chiến đĩnh ASPB trong ngày thành lập lực lượng thủy bộ- H́nh trích từ tài liệu [26] 

 

Lực Lượng Tuần Thám

Lực Lượng Tuần Thám được thành lập từ tháng 10 năm 1969 và gồm có 14 Giang Đoàn, chia ra thành 6 Liên Đoàn Tuần Thám. Nhiệm vụ chính yếu của Lực Lượng Tuần Thám là :  tuần tiễu, bảo vệ an ninh sông ng̣i và ngăn chận sự xâm nhập lén lút của cộng sản Bắc Việt bằng đường thủy qua ngả hành lang biên giới Miên Việt. Mỗi Giang Đoàn Tuần Thám được trang bị các Giang Tốc Đĩnh tối tân có vận tốc cao và khả năng hoạt động trong các nơi sông cạn và rất dễ dàng vận chuyển.

 

Lực Lượng Trung Ương

Lực Lượng Trung Ương được thành lập nhằm mục đích tập trung-một số đơn vị Hải Quân, để thi hành những nhiệm vụ đặc biệt có tầm hoạt động liên vùng

Lực Lượng Trung Ương gồm có các đơn-vị sau đây:

– 07 Giang Đoàn Ngăn Chận;

– 02 Giang Đoàn Trục Lôi.

 

 

Thiệp chúc Tết Cung Chúc Tân Xuân năm 1974 của Giang Đoàn 91 Trục Lôi – H́nh trích từ tài liệu [15] 

 

Thủy Quân Lục Chiến

Thủy Quân Lục Chiến đă được bành trướng tới cấp Sư Đoàn. Tuy nằm trong Quân chủng Hải Quân một cách lỏng lẻo về phương diện tổ chức quân binh chủng, nhưng trên thực tế về hành quân, Binh chủng này là Lực Lượng Tổng Trừ Bị đặt dưới quyền điều động hành quân của Bộ Tổng Tham Mưu.

Cấp số lư thuyết của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến là 14,072 người. Luôn luôn, quân số của SưĐoàn được bổ sung kịp thời mỗi khi bị hao hụt v́ chiến trận.

Vào năm 1974 v́ nhu cầu hành quân, Sư Đoàn Thủ -Quân Lục Chiến thứ hai được dự trù thành lập. Thành phần trang bị sơ khởi là Lữ Đoàn 468 (gồm các Tiểu-Đoàn 14, 16, 18) và 1 Pháo Đội 105 ly.

 

Sở Pḥng Vệ Duyên Hải

Sở Pḥng Vệ Duyên Hải được thành-lập từ tháng 3 năm 1964 và đặt trực thuộc Quân chủng Hải Quân về phương diện nhân viên và hành chánh. Sở Pḥng Vệ Duyên Hải có nhiệm vụ thi hành các chỉ  thị của Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu để thi hành các công tác hành quân đặc biệt của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa dọc duyên hải Nam cũng như Bắc Việt Nam.

 

Chỉ huy và Điều  động Hành Quân

Để việc hành quân được hữu hiệu, các Lực Lượng Chiến đấu Hải Quân được đặt dưới sự Chỉ huy và điều động hành quân của BCH/Hhq/LĐ Sông và BCH/Hhq/ LĐ Biển.

Bộ Chỉ Huy Hành quân Lưu động Sông

Chỉ huy và điều động các cuộc hành quân trong sông ng̣i thuộc lănh thổ Quân Khu III , Quân Khu IV và Biệt Khu Thủ-Đô nhằm mục đích ngăn chận địchà -quân xâm nhập và chuyển vận tiếp tế bằng đường sông. Bảo vệ an ninh sông ng̣i và yểmtrợ các Sư  Đoàn Bộ Binh hành quân qua các cuộc Hành Quân Trần Hưng Đạo 36, 41, 43, 44.

Bộ Chỉ Huy Hành Quân Lưu động Biển

Để việc kiểm soát toàn thể Hải phận Việt Nam Cộng Ḥa được thực hiện hữu hiệu và liên tục, BCH/Hhq/LĐ Biển được thành lập để Chỉ huy và điều động các cuộc hành quân Trần  Hưng Đạo Biển dọc theo duyênhải Việt  Nam, nhằm tạo một màn lưới ngăn chận mọi sự xâm nhập của cộng sản Bắc Việt bằng đường biển, đồng thời yểm trợ các Lực Lượng bạn dọc hải biên, hành quân diệt địch và b́nh định phát triển. Có 5 vùng Hành Quân Biển, mỗi vùng được kiểm soát bởi một Lực Lượng Đặc nhiệm gồm khoảng 100 chiến hạm, chiến đĩnh và chiến thuyền.

Tính từ bờ ra khơi, Hành Quân Biển chia thành 3 hành lang tuần tiễu:

– Hành lang cận duyên từ bờ biển ra đến 12 hải lư và được các chiến thuyền, Duyên Tốc Đĩnh, Tuần Duyên Đĩnh, Tuần Duyên Hạm đảm trách hoạt động tuần tiễu.

– Hành lang viễn duyên từ 12 hải lư ra đến 53 hải lư được những loại chiến hạm sau đây đảm trách tuần tiễu: Khu Trục Hạm, Tuần Dương Hạm, Hộ Tống Hạm.

– Hành lang Không thám từ 53 hải lư đến 100 hải lư do các phi cơ Không thám HQ Hoa Kỳ trách nhiệm hoạt động.

 

Tiếp vận

Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Tiếp Vận là cơ quan có nhiệm vụ yểm trợ các Lực Lượng Hành Quân. Nếu nói đến quân số, Bộ Chỉ Huy này quản trị hành chánh, kỹ thuật, tiếp vận liên hệ đến một quân số thật lớn lao lên đến 13,000 người.

Các đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Tiếp Vận Hải Quân gồm có:

* Hải Quân Công Xưởng, Trung Tâm Tiếp Liệu, Ty Công Thự Tiện Ích, Trung Tâm Sửa chữa Điện Tử.

* 07 Căn-cứ Yểm Trợ Tiếp Vận tại: Đà Nẵng, Cam Ranh, Cát Lở, Nhà Bè, An Thới, Đồng Tâm và B́nh Thủy.

 

jgq5v71lonby_result

Khu trục hạm Trần Hưng Đạo (HQ-1) là một trong những chiến hạm lớn của Hải quân Việt Nam Cộng Ḥa-H́nh trích từ tài liệu [22] 

(Phụ chú :  Chiếc tàu này trước đây có tên là "USS Camp" mang danh hiệu DER-251.Ngày 14 tháng 4 năm 1971, Đệ Nhứt Phu Nhơn Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa, Bà Nguyễn Thị Mai Anh đă tham dự buổi lễ đặt tên cho  chiếc tàu này tại bến Bạch Đằng ở Thủ Đô Sàig̣n.Trong h́nh dưới, Bà đang bắt đầu chuẩn bị cắt sợi dây, để một chai champage từ trên cao sẽ rơi xuống, và bể nát sau khi đập vào mũi của chiếc tàu Trần Hưng Đạo. Đây là một nghi thức đặt tên cho một chiếc tàu mới của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.Chiếc tàu chiến này là một Chiến Hạm Chỉ huy mới của Hải Quân Việt Nam) .

Lễ đặt tên cho Khu trục hạm Trần Hưng Đạo - H́nh trích từ tài liệu [27] 

 

photo1516331483542-1516331483543_result

Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do Thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy trong hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974.- H́nh trích từ tài liệu [22] 

 

C%25C3%25A1c+S%25C4%25A9+quan+H%25E1%25BA%25A3i+qu%25C3%25A2n+VNCH+t%25E1%25BA%25A1i+Qu%25C3%25A2n+c%25E1%25BA%25A3ng+Cam+Ranh+ng%25C3%25A0y+1+th%25C3%25A1ng+1+n%25C4%2583m+1971_result

Các Sĩ quan Hải quân VNCH tại Quân cảng Cam Ranh ngày 1 tháng 1 năm 1971- H́nh trích từ tài liệu [16] & [22] 

 

Theo tài liệu [16] : Qua thời gian dài trưởng thành từ tổ chức, xây dựng, chiến đấu. Tính đến năm 1975, Quân chủng Hải quân Việt Nam đă lớn mạnh với các tổ chức:
-1 Bộ Tư Lệnh Hải Quân;
-5 Vùng Duyên Hải (Hải Khu);
-2 Vùng Sông Ng̣i;
-Hạm đội với nhiều chiến hạm đủ loại;
-Các Lực lượng: Đặc nhiệm, Duyên pḥng, Duyên đoàn, Liên đoàn, Tuần giang, Giang đoàn Xung phong;
-3 Trung tâm Huấn luyện Hải quân tại Nha Trang, Cam Ranh và Sài G̣n;
-Hải quân Công xưởng (Sài G̣n);
-Quân số: Khoảng 40.000 người gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ (trong đó có 12 tướng lănh) .

 

Danh sách tàu hải quân của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà

Đề đốc Trần Văn Chơn cùng Đô đốc Hoa Kỳ Thomas H. Moore và các Thủy thủ VNCH tháng 9/1969 – H́nh trích từ tài liệu [16] 

 

Phần lớn tàu chiến của Hải quân Việt Nam Cộng ḥa được Hoa Kỳ viện trợ bằng cách chuyển giao một số tàu chiến của Hải quân Mỹ cho Việt Nam Cộng ḥa, chỉ một số nhỏ ghe tuần tiễu là do Hải quân Pháp để lại:
-Ghe Nautilus -Duyên tốc đĩnh PCF (Swift) -Khinh tốc đĩnh PTF
-PTF loại cũ -PTF Na Uy (Nasty) -PTF (Osprey)

 

Trang bị của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa thời điểm tháng 4/1975

-Tuần dương hạm WHEC (HQ 2, 3, 5, 6, 15, 16, 17) -Khu trục hạm DER (HQ 1, 4)
-Hộ tống hạm PCE-MSF (HQ 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14) -Hộ tống hạm PC (HQ 01, 02, 03, 04, 05, 06)
-Trục lôi hạm MSC (HQ 114, 115, 116) -Tuần duyên hạm PGM (20 chiếc)
-Dương vận hạm LST (HQ 500, 501, 502, 503, 504, 505) -Cơ Xưởng hạm AGP (
HQ-800, 801, 802)
-Hải vận hạm LSM (HQ 401, 402, 403, 404, 405, 406) -Trợ chiến hạm LSSL (HQ 228, 229, 230, 231)
-Hỏa vận hạm (HQ YOG (6 chiếc) -Khinh tốc đỉnh PT (8 chiếc)
-Duyên tốc đỉnh PCF (107 chiếc) -Tuần duyên đỉnh WPB (26 chiếc)
-Hải thuyền (250 chiếc) -Giang đỉnh Chỉ huy LCM Commandement (14 chiếc)
-Giang vận hạm LCU (16 chiếc) -Giang tốc đỉnh PBR (239 chiếc)
-Quân vận đỉnh LCVP (53 chiếc) -Giang vận đỉnh LCM 6 và LCM 8 (không nhớ rơ)

Chữ viết tắt dùng trong phần danh sách các hạm:
-TT: (Trọng tải) -KT: (Dài × Rộng × Mớm nước - Đơn vị = mét)
-VT: (Vận tốc) -TD: (Thủy thủ đoàn) -VK: (Vũ khí)

 

Việt ngữ                   Ngoại ngữ                          Việt ngữ                                  Ngoại ngữ

Ngư lôi hạm             Torpilleur                                 Tiềm thủy đĩnh                  Sous Marin

Hộ tống hạm            Aviso                                 Tuần dương hạm              Croiseur

Tuần tiễu hạm                              Patrouilleur                                 Trực thăng mẫu hạm                                Helicopter Deck

Khu trục hạm                                Destroyer                                 Hàng không mẫu hạm       Porte Avions

Thiết giáp hạm         Cuirssé                                 Hộ tống hạm săn tàu lặn       Frégate

 

 

Bảng tham chiếu danh từ các tàu hải quân

     Tên HQ Việt Nam Tên HQ Hoa Kỳ                     Viết tắt

1   Khu trục hạm     Destroyer Escort and Radar Picket            DER    

2   Tuần dương hạm White High Endurance Cutter     WHEC               

3   Hộ tống hạm       Patrol Craft Escort              PCE    

4   Giang pháo hạm Landing Ship Infantry Light    LSIL    

5   Trợ chiến hạm    Landing Ship Support Large  LSSL    

6   Tuần duyên hạm Patrol Gunboat Motor         PGM    

7   Dương vận hạm Landing Ship Tank                 LST    

8   Yểm trợ hạm      Auxiliary General Purpose      AGP    

9   Cơ xưởng hạm Vĩnh Long HQ802 Landing Craft Repair Ship LCRS

10 Hải vận hạm       Landing Ship Medium            LSM    

11  Bệnh viện hạm   Landing Ship Medium Hospital     LSMH                 

12 Hỏa vận hạm      Yard Oiler Gunship           YOG    

13 Thực vận hạm     Refrigerated Covered Lighter                      RCL    

14 Duyên vận hạm  Utility Boat 100 Feet          UB 100    

15 Giang vận hạm   Landing Craft Utility               LCU    

16 Giang vận hạm   Harbor Utility Craft               HUC    

17 Trục vớt hạm      Salvage Light Lift Craft          SLLC    

18 Kiểm báo hạm    Lights Ship                          LS    

19 Tuần duyên đỉnh Patrol Boat                          PB    

20 Duyên tốc đỉnh   Patrol Craft Fast                 PCF    

21 Duyên kích đỉnh  Coastal Raider/Ferro Cement     CR/FC               

Các hạm của lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ đều mang chữ W ở đầu để dễ phân biệt (WHEC, WBP, WLV, v.v.) .

 

 

Bộ Tư lệnh và các đơn vị trực thuộc tháng 4/1975

1 Chung Tấn Cang-Hải quân Nha Trang K1- Phó Đô đốc-Trung tướng-Tư lệnh Hạ tuần tháng 3 năm 1975, Tổng thống Thiệu bổ nhiệm Phó Đô đốc Cang thay thế Đề đốc Tánh, để thực hiện di tản lực lượng c̣n lại của Quân đoàn I và II theo kế hoạch rút bỏ Quân khu 1 và 2.

2    Diệp Quang Thủy- Vơ bị Đà Lạt K6- Hải quân Nha Trang K3-Phó Đề đốc- Chuẩn

 tướng-Tư lệnh phó- kiêm Tham mưu trưởng.       

3    Nguyễn Thanh Châu-Hải quân Nha Trang K3- Phó Đề đốc- Chuẩn  tướng Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Cơ sở tại Nha Trang .

4    Nguyễn Hữu Chí- Hải quân Nha Trang K3- Phó Đề đốc- Chuẩn   tướng Phụ tá Tư lệnh HQ Lưu động biển Tư lệnh Lực lượng Duyên pḥng (Lực lượng Đặc nhiệm 213)--Bộ tư lệnh đặt tại Sài G̣n.

5    Hồ Văn Kỳ Thoại-Hải quân Nha Trang 4- Phó Đề đốc- Chuẩn  tướng -Tư lệnh Hải khu 1-Bộ Tư lệnh đặt tại Căn cứ Tiên Sa, Đà Nẵng.

6    Hoàng Cơ Minh- Hải quân Nha Trang K5 - Phó Đề đốc- Chuẩn  tướngTư lệnh Hải khu 2-Bộ Tư lệnh đặt tại Cam Ranh .

7    Vũ Đ́nh Đào-Hải quân Nha Trang K3- Phó Đề đốc-Chuẩn  tướng-Tư lệnh Hải khu 3-Bộ Tư lệnh đặt tại Căn cứ Cát Lở, Phước Tuy .

8    Nguyễn Văn Thiện-Hải quân Nha Trang K2- Đại tá- Tư lệnh Hải khu 4- Đặc khu trưởng Phú Quốc- Bộ Tư lệnh đặt tại Phú Quốc, Kiên Giang.
Đinh Xuân Thảo[-Vơ khoa Thủ Đức K7-Trung Tá-Tư lệnh Hải khu 4-Đặc khu phó
kiêm Quận trưởng Phú Quốc-Bộ Tư lệnh đặt tại Phú Quốc, Kiên Giang
.

9    Nguyễn Văn May -Hải quân Nha Trang K5 -Đại tá-Tư lệnh Hải khu 5-Bộ Tư lệnh đặt tại Năm Căn, An Xuyên .

10  Phạm Mạnh Khuê-Hải quân Nha Trang K4- Đại tá-Phụ tá Tư lệnh HQ Lưu động biển-Tư lệnh Hạm đội-Bộ Tư lệnh đặt tại Công xưởng Hải quân, Bến Bạch Đằng, Sài G̣n.

11  Đinh Mạnh Hùng-Hải quân Nha Trang K2-Phó Đề đốc-Chuẩn tướng-Tư lệnh Hành quân Lưu động sông-Bộ Tư lệnh đặt tại Bến Bạch Đằng, Sài G̣n

12  Trịnh Quang Xuân-Hải quân Brest K3-Đại tá-Tư lệnh Giang khu 3-Bộ Tư lệnh đặt tại Căn cứ Long B́nh .

13  Đặng Cao Thăng-Vơ khoa Nam Định-Hải quân Brest Pháp K1-Phó Đề đốc-Chuẩn tướng-Tư lệnh Giang khu 4-Tư lệnh Hạm đội Đặc nhiệm 21-Bộ Tư lệnh đặt tại Cần Thơ, Phong Dinh

14  Nguyễn Bá Trang-Hải quân Nha Trang K4-Đại tá-Tư lệnh Lực lượng Thủy bộ-Bộ Tư lệnh đặt tại Cần Thơ

15  Nghiêm Văn Phú-Hải quân Nha Trang K2-Phó Đề đốc-Chuẩn tướng          Tư lệnh Lực lượng Tuần thám-(Lực lượng Đặc nhiệm 212)-Bộ Tư lệnh đặt tại Mỹ Tho, Định Tường.

16  Nguyễn văn Thông-Hải quân Nha Trang K3-Đại tá-Tư lệnh Lực lượng Trung Ương-
(Lực lượng Đặc nhiệm 214)-Bộ Tư lệnh đặt tại Đồng Tâm, Mỹ Tho, Định Tường.

17  Bùi Kim Nguyệt-Hải quân Nha Trang K3- Đại tá-Tư lệnh Hải quân Biệt khu Thủ Đô-Bộ tư lệnh đặt tại trại Lê Văn Duyệt, Sài G̣n.

18  Lê Hữu Dơng-Hải quân Nha Trang K8- Đại tá-Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 99-Bộ Tư lệnh đặt tại Nhà Bè, Gia Định.

19  Nguyễn Văn Kính- Hải quân Nha Trang K2- Đại tá-Chỉ huy trưởng Liên đoàn Tuần giang (Lực lượng Giang pḥng)-Bộ chỉ huy đặt tại Sài G̣n .

20  Đoàn Ngọc Bích-Hải quân Nha Trang K1- Đại tá-Phụ tá Tiếp vận-Bộ chỉ huy đặt tại Sài G̣n .

21  Vương Hữu Thiều-Vơ khoa Thủ Đức K1-Hải quân Brest K1- Đại tá-Chỉ huy trưởng Tiếp vận-Bộ chỉ huy đặt tại Sài g̣n.

22  Nguyễn Văn Lịch-Hải quân Nha Trang K1- Đại tá- Chỉ huy trưởng Hải quân Công xưởng-Cơ sở đặt tại Sài G̣n.

23  Nguyễn Viết Tân-Hải quân Nha Trang K5- Đại tá-Chánh sở Pḥng vệ Duyên hải-                                 Cơ sở chính đặt tại Đà Nẵng

24  Nguyễn Đỗ Hải-Vơ khoa Nam Định-Hải quân Brest K1- Đại tá- Chánh Sở An ninh Quân đội-Cơ sở đặt tại Sài G̣n .

25  Đặng Vũ Khiêm-Đại học Quân y Sài G̣n - Đại Tá-Y sĩ trưởng Hải quân.           

26  Trịnh Ḥa Hiệp-Hải quân Nha Trang K7-Trung tá-Chỉ huy trưởng Liên đoàn Người nhái-Bộ chỉ huy đặt tại Cát Lái, Thủ Đức, Gia Định.

 

Phụ đề : Việc Dựng tượng Thánh Tổ Hải Quân VNCH

Theo tài liệu [28] :

 Năm 1967, khi Chính Phủ Quân Nhân do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tức Thủ tướng) sửa soạn trao quyền lại cho Chính Phủ Dân Sự, Chính Phủ muốn để lại một cái ǵ cho thành phố Sàig̣n, đánh dấu thời gian Quân Đội tham chánh, nhất là tạo cho Thủ Đô Sàig̣n thành một thành phố có màu sắc lịch sử và đẹp xứng đáng là một Thủ Đô, Chính Phủ muốn dựng các tượng danh nhân lịch sử tại các công trường trong Thủ Đô.

Việc này Chính Phủ giao cho Quân Đội thực hiện, cụ thể là Cục Tâm Lư Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Quốc Pḥng phụ trách.

Riêng Hải Quân, được giao dựng tượng tại công trường Mê Linh, sau đổi là công trường Bạch Đằng, ở ngay bờ sông , cuối đường Hai Bà Trưng. Việc tế nhị và khó khăn của việc dựng tượng Thánh Tổ Hải Quân ở đây là làm thế nào có thể sử dụng được cái bệ đă có sẵn. Nguyên khi nền Đệ Nhất Cộng Ḥa đây là công trường Mê Linh, được ông Ngô Viết Thụ lập đồ án dựng tượng Hai Bà Trưng. Kiến trúc đẹp, mới được coi là một công tŕnh nghệ thuật của Thủ Đô Sàig̣n, tạo một hấp lực cho cảnh trí bến Bạch Đằng, xứng đáng là cửa ngơ của Thủ Đô Việt Nam Cộng Ḥa.

Khi công trường này được giao cho Hải Quân được đổi tên là công trường Bạch Đằng, vừa là quân cảng, và bến sông tiếp nhận các tàu bè từ biển tới Thủ Đô Sàig̣n

V́ vị Thánh Tổ Hải Quân, Đức Trần Hưng Đạo, chẳng những văn vơ song toàn, một vị đại anh hùng của dân tộc, và đây c̣n là cửa ngỏ của Thủ Đô, sát ngay Bộ Tư Lệnh Hải Quân, nên Hải Quân đă tích cực và thi hành công tŕnh thật chu đáo và to tát.

HQ. Đại tá Trần Văn Chơn  khi đó được trở lại đảm nhiệm vài tṛ Tư lệnh Hải Quân lại có dịp dựng tượng Đức Thánh Trần, vị đại anh hùng của đất nước, mà ông cũng t́nh cờ mang cùng họ : Họ Trần, nên nỗi vui, niềm hănh diện ở nơi ông về việc dựng tượng Đức Thánh Trần, quả là một việc làm rất phấn khởi và cũng đă có một phần huyền nhiệm.

Đức Thánh Trần, vị Thánh tổ của Hải Quân đă được Hải Quân cố gắng làm sáng danh ngài và nức ḷng học tập, noi gương Ngài. Các chiến hạm, ngoài quốc kỳ, chiến kỳ được chính thức có thêm Thánh kỳ để cắm nơi mũi tàu khi có đại lễ, Thánh kỳ là một lá cờ ngũ sắc, có tua răng cưa, một loại cờ cổ ta thường gặp tại các đền thờ, các nơi đ́nh đám của ngày hội tổ chức theo phong tục cũ. Giữa ḷng lá cờ có một chữ đại tự bằng chữ nho: chữ Trần. Trong các ngày đại lễ, toán hầu kỳ gồm có : Quân, Quốc và Thánh kỳ. Suốt bao nhiêu năm Hải Quân hoạt động, các ngày lễ lớn, các chiến hạm kéo Đại kỳ rực rỡ, xa đă thấy Thánh kỳ sặc sỡ cắm nơi cột tại mũi tàu. Đó là một h́nh ảnh rất khác lạ so với các chiến hạm của các quốc gia khác. Một trang trí rất đẹp và đầy uy linh của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa một thời.

Mẫu tượng của người nào đó bên Hội Thánh Trần bên Thủ Thiêm đề nghị, đó là mẫu tượng được chấp nhận làm nên tượng Ngài hiện nay. Đó là h́nh ảnh của vị Đại tướng trong y phục vơ tướng, một tay tỳ lên độc kiếm, mật tay chỉ xuống ḷng sông và nói : "Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không trở lại khúc sông này nữa".

Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa với nhiều phương tiện của Hải Quân Công Xưởng, và sự đóng góp tiền bạc của tất cả quân nhân Hải Quân các cấp, đă hoàn thành một công tŕnh mang đầy ư nghĩa lịch sử, nghệ thuật cho Thủ Đô Sàig̣n.

Tượng làm xong từ Hải Quân Công Xưởng do từng mảnh ghép lại, được cần trục câu lên ghép lại. Câu các mảnh ấy như câu các kiện hàng, nhưng ghép lại phải khéo để không thấy các mối ghép. Ghép xong mới tô và cho các vết ghép được nhuần nhuyễn như một khối đồng đen. Thực ra đó là các mảnh xi măng đúc từ Hải Quân Công Xưởng.

Hội Thánh Trần cung cấp các thước vải đỏ, độ 200 thước vuông, để phủ tượng. Khi xong lễ, các thước vải linh thiêng này sẽ được trao lại cho Hội Thánh Trần để phân chia cho những ai muốn có chút di vật của Ngài để cầu may và trừ tà ma.... Ư kiến ấy được Hội Thánh bên Thủ Thiêm tán thành nhiệt liệt, và cung cấp vải đỏ rất đầy đủ và rất mau.

Nhưng phần vải th́ dễ rồi. Mở ra làm sao. Mở cho dễ, cho đẹp, và không vướng mắc vào giờ phút linh thiêng của buổi lễ. Ư kiến này, Hải Quân Công Xưởng chịu thua. Phủ th́ được, mở ra khó quá. Sau một đêm, hôm sau Thiếu Tá Phan Phi Phụng vào sở, đem theo một cuộn giây ch́, đường kính 3 milimetre. Cuộn giây ch́ được cắt ra từng đoạn, bẻ lại thành các ṿng tṛn, ch́ này vừa đủ mạnh để ghim các mảnh vải phủ tượng vào nhau. Khi cần mở vải phủ, từ giây thừng đă gài ở khoen cao nhất. Được Đại tướng Viên từ từ kéo xuống, các ṿng ch́ răn ra nhẹ nhàng. Và để chắc ăn, có thêm 2 giây như thế, tất cả là 3 giây, có thêm hai vị nữa, một là HQ. Đại tá Trần Văn Chơn, một là Hội trưởng Hội Thánh Trần, ba sợi giây cùng kéo, các mảnh vải đă được bóc ra như là bóc một quả cam bổ dọc. Các mảnh vải được gió sông Sàig̣n thổi bay và từ từ là xuống, tượng Đức Thánh Tổ Hải Quân hiện ra trước mắt mọi người, hiện lên bầu trời cao xanh ngắt, giữa tiếng vỗ tay vang dội của quan khách, nhất là của phái đoàn dân sự của Hội Thánh Trần.

 Các mảnh vải này đă được Hội Thánh trân trọng thu góp lại, và cắt ra từng miếng nhỏ, phát cho những ai muốn được hưởng lộc của Ngài. Tôi (tác giả tài liệu [28]  ) cũng được thỉnh một vuông vải nhỏ bằng cái khăn ăn. Vuông vải linh thiêng này được vợ tôi giữ kỹ lắm, và sau đó c̣n phải cắt ra để chia cho các một số bạn làm vật cầu may.

 Hơn nửa,theo tài liệu [4] : Năm 1969,  Hài Quân Việt Nam Cộng Ḥa khánh thành tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng. Tượng do Điêu Khắc Gia PhạmThông thực hiện .

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Nha_Trang Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.

2.     http://navygermany.gerussa.com/main/diendanbandoc/trungtamHLHQNT/trungtamHLHQNT_01.htm Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang- Nguyễn Tấn Đơn- Mùa Xuân Sydney Năm 2001.

3.     https://dongsongcu.wordpress.com/2025/07/29/truong-si-quan-hai-quan-nha-trang-hoc-vien-hai-quan-vnch/ ḍng sông cũ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, Học Viện Hải Quân VNCH - Posted on July 29, 2025 by dongsongcu - Trích đăng từ trang nhà:  https://hosovnch.blogspot.com/ By Lieutenant Commander Richard L. Madouse, U. S. Navy- March 1969 _ Proceedings - Thềm Sơn Hà.

4.     https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bien-kh-o/34-diepmylinh/1466-haiquanrakhoi?start=1  -   CHƯƠNG I -SƠ LƯỢC  LỊCH SỬ HẢI QUÂN V.N.C.H.

5.     https://www.facebook.com/groups/370854480718440/posts/1209415183529028/ Nha Trang Ngày Xưa-Huỳnh Sanh- Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha-Trang - 1 août 2024.

6.     https://linhvnch.wordpress.com/hai-quan-vnch/ Hải Quân VNCH.

7.     https://dongsongcu.wordpress.com/2024/08/20/truong-si-quan-hai-quan-nha-trang-dieu-kien-nhap-hoc-chuong-trinh-le-man-khoa-k-18-sqhq-nt-bang-cap-si-quan-hai-quan-nha-trang-them-son-ha/ ḍng sông cũ -Trường Sĩ quan Hải quân Nha trang, điều kiện nhập học, chương tŕnh lễ măn khóa K.18/SQHQ/NT, bằng cấp sĩ quan hải quân nha trang-Thềm Sơn Hà- November 12, 2023 - Trích đăng từ trang nhà http://vaosong-rabien.blogspot.com/ Posted on August 20, 2024 by dongsongcu .

8.     Nguyễn Tấn Hưng- Một Đời Để Học-Làng Văn, Gia Nă Đại-1988.

9.     https://benxua.wordpress.com/2018/12/18/huan-luyen-hai-quan-vnch-hai-quan-da%CC%A3i-ta-bui-hu%CC%83u-thu/ Bến xưa Huấn Luyện Hải Quân VNCH – Hải Quân Đại Tá Bùi Hữu Thư.

10.  Nguyễn Tấn Hưng- Một Trời Một Biển-Đoạn văn T́nh Thư trên Chiến Hạm- Văn Nghệ Tiền Phong Xuất bản năm 1994.

11.  https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953-Bùi Ngọc Hương Cựu Hoa Tiêu Sông Sàig̣n-March 2006-Posted on September 28,2017 by dongsong cu.

12.  https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%E1%BA%A5n_Quy%E1%BB%81n Hồ Tấn Quyền.

13.  https://nguyentin.tripod.com/dt_trannguonphieu.htm Đại Tá Trần Ngươn Phiêu .

14.  https://www.facebook.com/groups/375827203600067/posts/683157126200405/ Sài G̣n Xưa - Luy Tran Nguon - 25 février 2022- BS Trần Ngươn Phiêu và Phu Nhân .

15.   https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.

16.  https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

17.  http://batkhuat.net/van-lucluong-dacnhiem-thuybo-hq-vnch.htm Tiểu Đĩnh -Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ VNCH.

18.  https://bienxua.wordpress.com/2016/07/09/luoc-su-hqvnch-he-thong-to-chuc-tong-quat-hai-quan-viet-nam-cong-hoa/  Vũ Hữu San-Lược sử HQVNCH: Hệ thống Tổ Chức Tổng Quát Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa- Posted by bienxua on July 9,2016.

19.  https://bienxua.wordpress.com/2016/03/11/the-navy-of-the-republic-of-vietnam-by-edward-j-marolda/  The Navy of the Republic of Vietnam By Edward J. Marolda- Posted by bienxua on March 11,2016.

20.  https://viet-europe.org/?p=65909 Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa và Những Điều Khác Biệt-Le Quang-Apr. 23,2024.

21.  https://nhacxua.vn/lich-su-tuong-dai-duc-thanh-tran-hung-dao-o-cong-truong-me-linh/ Lịch sử tượng đài Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở công trường Mê Linh 2021/09/27.

22.   https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .

23.  https://petruskyaus.net/ky-niem-phuc-vu-quan-y-hai-quan-quan-luc-vnch-tran-van-nam/ Kỷ Niệm Phục Vụ Quân Y Hài Quân Việt Nam Cộng Ḥa-Trần Văn Nam (Trích: Trần Văn Nam 80 năm cuộc đời) .

24.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_s%C4%A9_quan_h%E1%BA%A3i_qu%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_tu_nghi%E1%BB%87p_%E1%BB%9F_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_H%E1%BA%A3i_chi%E1%BA%BFn_Hoa_K%E1%BB%B3 Danh sách sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng ḥa tu nghiệp ở trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ .

25.  https://bienxua.wordpress.com/2016/03/11/hqdai-ta-ho-tan-quyen-voi-chien-dich-song-tinh-thuong/ Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn - HQ/Đại tá Hồ Tấn Quyền với Chiến Dịch Sóng T́nh Thương -Posted by bienxua on March 11, 2016 .

26.  http://batkhuat.net/van-lucluong-dacnhiem-thuybo-hq-vnch.htm Tiểu Đĩnh -Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ Hải Quân VNCH.

27.  Đây là một tấm h́nh rất đặc biệt-ST- David Tran -San Jose, ngày 19 tháng 5 năm 2026.

28.  https://hon-viet.co.uk/PhanLacTiep_ViecDungTuongThanhToHaiQuanVNCH.htm Phan Lạc Tiếp-Việc Dựng tượng Thánh Tổ Hải Quân VNCH.